TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Vườn quốc gia Xuân Liên Việt Nam

Tác giả: Phùng Mỹ Trung 4 Tháng 4, 2025

Vị trí địa lý, lịch sử hình thành
Vị trí địa lý:
Vườn quốc gia Xuân Liên thuộc địa giới hành chính huyện Thường Xuân, cách Thành phố Thanh Hoá 65 km về hướng Tây Nam với toạ độ địa lý: 190052′ – 200002′ độ vĩ Bắc; 1040058′ – 1050015′ độ kinh Đông.
– Phía Bắc giáp được giới hạn bởi sông Khao;
– Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An giới hạn bởi ngọn Bù Ta Leo;
– Phía Tây giáp tỉnh Nghệ An và Phần còn lại của xã Bát Mọt;
– Phía Đông được giới hạn bởi ngọn Bù Khang và đập Thuỷ điện Cửa Đạt.

Lịch sử hình thành
Ngày 01 tháng 4 năm 2025 UBND tỉnh Thanh Hoá ra Quyết định số: 952/QĐ-UBND Về việc thành lập Ban Quản lý Vườn Quốc gia Xuân Liên.
Mục tiêu, chức năng nhiệm vụ quyền hạn
Mục tiêu chung: 
Quản lý, bảo vệ, bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Vườn quốc gia Xuân Liên gắn với việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo tồn nguồn gen, bảo vệ cảnh quan và môi trường; làm cơ sở cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng rừng đặc dụng; huy động sự tham gia rộng rãi của cộng đồng, các tổ chức trong và ngoài nước vào hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững rừng đặc dụng Vườn quốc gia Xuân Liên.
Bảo vệ an toàn hệ động thực vật hiện có trong Khu bảo tồn, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học về bảo tồn nhằm phục hồi môi trường sinh thái, bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó chú trọng các loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới.
Phát triển du lịch sinh thái, du lịch thăm quan trong vùng trên cơ sở khai thác tiềm năng đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên, các danh thắng lịch sử- tín ngưỡng, bản sắc văn hoá bản địa trong vùng.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đệm thông qua các chương trình dự án về hỗ trợ đầu tư sản xuất, đào tạo nâng cao nhận thức, chuyển giao khoa học công nghệ cho người dân.
Áp dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật trong công tác bảo vệ, bảo tồn, phục hồi bền vững các hệ sinh thái rừng đặc trưng, các loài sinh vật quan trọng của Khu rừng đặc dụng, trong đó chú trọng bảo tồn bền vững các loài động thực vật đặc hữu, quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và Thế giới.
Phát triển kinh tế xã hội, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đệm thông qua các chương trình dự án về hỗ trợ đầu tư sản xuất, đào tạo nâng cao nhận thức, chuyển giao khoa học công nghệ cho người dân và thực hiện cơ chế chia sẻ lợi ích cho cộng đồng vùng đệm, nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư địa phương về ý thức đồng trách nhiệm, tự nguyện tham gia bảo vệ rừng, đa dạng sinh học và môi trường rừng của KBT.

Vị trí chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
Vườn quốc gia Xuân Liên là đơn vị sự nghiệp có thu, trực thuộc Sở Nông nghiệp và PTNT; có chức năng thực hiện trách nhiệm quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng; bảo tồn, phát huy các giá trị đặ biệt về thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái, đa dạng sinh học, nguồn gen sinh vậ, dự trữ thiên nhiên, di tích lịch sử, văn hóa, cảnh quan; nghiên cứu khoa học; cung ứng dịch vụ môi trường rừng; tổ chức các hoạt động dịch vụ môi trường sinh thái, du lịch và giáo dục môi trường rừng theo quy định của pháp luật.
Ban QL Vườn quốc gia Xuân Liên chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Sở Nông nghiệp và PTNT; đồng thời chịu sự kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo quy định của pháp luật.
Trụ sở chính của Ban QL Vườn quốc gia Xuân Liên đặt tại xã Xuân Cẩm, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Nhiệm vụ và quyền hạn
Xây dựng các chương trình, dự án đầu tư; các chương trình, kế hoạch, dự án, đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức triển khai thực hiện sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Quản lý, bảo vệ, phát triển rừng đặc dụng được giao quản lý; bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, các loài sinh vật đặc hữu, phục hồi tài nguyên rừng và bảo tồn cảnh quan thiên nhiên:
Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học, dịch vụ nghiên cứu khoa học theo chương trình, đề án, dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; xây dựng chương trình, dự án hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong cà ngoài nước về quản lý, bảo vệ, bảo tồn, phát triển tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học; tổ chức các hoạt động hợp tác quốc tế sau khi được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Đa dạng sinh học ở Vườn quốc gia Xuân Liên
Đa dạng về Thú
Kết quả nghiên cứu, khảo sát đã ghi nhận ở Vườn quốc gia Xuân Liên có 80 loài thú thuộc 26 họ, 9 bộ.
Xác định được 27 loài nguy cấp, quý hiếm chiếm 33,75% tổng số ghi nhận được tại khu vực nghiên cứu và 30,0% tổng số loài quí hiếm của cả nước trong đó thuộc Nghị Định 32/2006/NĐ-CP ghi nhận được 24 loài, trong đó 17 loài thuộc nhóm IB, 5 loài thuộc nhóm IIB; thuộc Sách Đỏ Việt Nam 2007 ghi nhận được 23 loài chiếm 26,74% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam, trong đó có 2 loài mức CR chiếm 2,33% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam, 9 loài mức EN chiếm chiếm 10,46% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam, 11 loài mức VU chiếm 13,95% tổng số loài ghi nhận trong Sách Đỏ Việt Nam; và thuộc Danh lục đỏ IUCN 2007 ghi nhận được 16 loài chiếm 21,33% tổng số loài thú của Việt Nam ghi nhận trong Danh lục đỏ IUCN 2012, trong đó có 4 loài mức EN chiếm 5,33% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN, 8 loài mức VU chiếm 9,33% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN, 2 loài mức LR/nt chiếm 2,66% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN, 2 loài mức NT chiếm 2,66% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN, 1 loài mức DD chiếm 1,33% tổng số loài thú Việt Nam trong Danh lục đỏ IUCN.

Đa dạng về Chim Ghi nhận tại khu vực nghiên cứu có 192 loài chim thuộc 41 họ, 15 bộ.
Qua phân tích và thống kê đã ghi nhận tại khu vực nghiên cứu có 192 loài chim thuộc 41 họ, 15 bộ. Trong đó có: 26 loài ghi nhận được bằng phương pháp lưới mờ; 2 loài ghi nhận được qua bẫy bắt của người dân địa phương; 169 loài quan sát trực tiếp bằng mắt thường hoặc ống nhòm; 11 loài ghi nhận được qua tiếng kêu đặc trưng của chúng, 2 loài chim ghi nhận được qua di vật; 134 loài thống kê qua tài liệu và 29 loài chụp được ảnh trong quá trình điều tra, khảo sát thực địa.
Thống kê các loài chim có giá trị bảo tồn: Về giá trị bảo tồn trước hết căn cứ vào các tiêu chí phân hạng các loài đang bị đe doạ trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007, thuộc danh sách các loài quí hiếm được ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Danh lục đỏ IUCN, 2011. Đó là những loài đang được ưu tiên bảo tồn.
Trong số 192 loài chim ghi nhận được ở Vườn quốc gia Xuân Liên có 10 loài được ưu tiên bảo tồn, chiếm 5,21% tổng số loài. Trong đó:
– Có 9 loài nằm trong Nghị định 32/2006/NĐCP 2006: 2 loài thuộc nhóm IB và 7 loài thuộc nhóm IIB.
– Có 5 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007: 3 loài ở bậc VU và 2 loài ở bậc LR.
– Có 2 loài được ghi trong Danh lục đỏ IUCN 2012 ở bậc NT.

Đa dạng về Bò sát Kết quả nghiên cứu khảo sát khu hệ bò sát và ếch nhái có 41 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ.
Kết quả nghiên cứu khảo sát khu hệ bò sát và ếch nhái, đã thu thập được 253 mẫu vật và 125 mẫu ADN. Thông qua phân tích mẫu vật và các tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực địa, sơ bộ thống kê tại khu vực nghiên cứu có 41 loài bò sát thuộc 12 họ, 2 bộ.
Các họ có số lượng loài đa dạng bao gồm họ Rắn nước 16 loài chiếm 39,5% tổng số loài bò sát ghi nhận trong khu vực. Họ Thằn lằn bóng, họ Rắn lục và Rùa đầm mỗi họ ghi nhận có 4 loài. Các loài bò sát cỡ lớn kỳ đà, trăn, các loài rắn độc có giá trị kinh tế cao được ghi nhận thông qua phỏng vấn, các loài rùa được ghi nhận thông qua mẫu vật đang lưu giữ tại Vườn quốc gia Xuân Liên.
Đáng chú ý, có 14 loài là ghi nhận mới cho tỉnh Thanh Hóa gồm: Tắc kè chân vịt Gekko palmatus, Thằn lằn phê-nô đốm Sphenomorphus maculatus, Thằn lằn tai hải nam Ropidophorus hainanus, Rắn sãi trơn Amphiesma modestum, Rắn nhiều đai Cyclophiops multicinctus, Rắn lệch đầu kinh tuyến Dinodon meridionale, Rắn lệch đầu thẫm Dinodon septentrionale, Rắn dẻ Dryocalamus davidsonii, Rắn hổ đất nâu Psammodynastes pulverulentus, Rắn lục núi Ovophis monticola, Rắn lục cườm Protobothrops muscrosquamatus, Rắn lục xanh Trimeresurus stejnegeri, Rùa đất âu-ham Cyclemys oldhami và Rùa đất lớn Heosemys grandis.
Các loài bò sát quý hiếm ở khu vực nghiên cứu: Trong tổng số 41 loài ghi nhận tại Vườn quốc gia Xuân Liên, có 15 loài bò sát bị đe dọa chiếm 36,6% tổng số loài: 13 loài ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 trong đó có 2 loài ghi ở bậc cực kỳ nguy cấp CR, 6 loài ghi ở bậc nguy cấp EN và 5 loài ghi ở bậc sẽ nguy cấp VU; 7 loài ghi trong danh lục đỏ IUCN 2012 gồm 1 loài ở bậc CR, 2 loài ở bậc EN, 3 loài ở bậc VU và 1 loài ở bậc gần bị đe dọa LR/nt; 11 loài ghi trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP 2006 trong đó 1 loài thuộc nhóm IB và 10 loài thuộc nhóm IIB.

Đa dạng về Lưỡng cư Kết quả điều tra, thống kê có 44 loài lưỡng cư thuộc 7 họ, 2 bộ.
a Thành phần loài lưỡng cư của Vườn quốc gia Xuân Liên: Nghiên cứu khảo sát khu hệ bò sát và ếch nhái, đã thu thập được 120 mẫu vật và 80 mẫu ADN. Thông qua phân tích mẫu vật và các tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực địa, sơ bộ thống kê tại khu vực nghiên cứu có 44 loài lưỡng cư thuộc 7 họ, 2 bộ.
Các họ có số lượng loài đa dạng bao gồm họ ếch nhái chính thức và họ ếch cây với 9 loài  chiếm 25/% tổng số loài lưỡng cư ghi nhận trong khu vực.
So với danh sách loài của Lê Nguyên Ngật và Phạm Văn Anh 2009 thì đã ghi nhận bổ sung 11 loài cho Vườn quốc gia Xuân Liên nhưng cũng không bắt gặp lại 8 loài đã từng được các tác giả này ghi nhận. Tuy nhiên cần kiểm tra lại một trên mẫu vật với một số loài như Ếch bám đá Amolops ricketti, Ếch delacour Annandia delacouri, Ếch bắc bộ Odorana bacboensis.
Có 9 loài là ghi nhận mới cho tỉnh Thanh Hóa như: Cóc mắt Leptolalax tuberosus, Cóc mày Ophryophryne gerti,  Ếch đồng dạng Hylarana attigua, Nhái cây quang Gracrixalus quangi, Nhái cây Kurixalus bissaculus, Nhái cây tí hon Philautus parvulus, Ếch cây màng bơi nhỏ Rhacophorus rhodopus, Ếch cây ki-ô Rhacophorus kio, Ếch cây óc-lốp Rhacophorus orlovi, Ếch cây sần a-x-pơ Theloderma asperum, Ếch giun Ichthyophis kotaoensis.
Đáng chú ý, lần đầu tiên chúng tôi đã ghi nhận vùng phân bố mới của loài ếch cây Gracixalus quangi ở tỉnh Thanh Hóa. Đây là loài mới được Rowley và cộng sự công bố dựa trên mẫu chuẩn thu ở Nghệ An vào năm 2011.

Đa dạng về Côn trùng Kết quả điều tra ghi nhận có 1.282 loài thuộc 124 họ thuộc 10 bộ
Côn trùng có số lượng loài và số lượng cá thể rất lớn, nên mặc dù mẫu vật thu thập là tất cả côn trùng có thể thu được, nhưng đối tượng phân tích trong phạm vi Khu bảo tồn hiện nay được giới hạn và xác định 124 họ thuộc 10 bộ: bộ Cánh cứng Coleoptera; bộ Hai cánh Diptera; bộ Cánh màng Hymenoptera; bộ Cánh vảy Lepidoptera; bộ Cánh khác Heteroptera; bộ Cánh giống Homoptera; bộ Cánh thẳng Orthoptera; bộ Bọ que Phasmatodea; bộ Bọ ngựa Mantodea; bộ Cánh da Dermaptera.
Trong số 10 bộ côn trùng được ghi nhận, các bộ chiếm ưu thế về số lượng họ và loài là các bộ Cánh cứng 29,0% tổng số họ, 31,1% tổng số loài và bộ Cánh vảy 20,2% tổng số họ, 33,5% tổng số loài, tiếp theo là bộ Cánh khác 10,5% tổng số họ, 12,2% tổng số loài, bộ Hai cánh 7,3% tổng số họ, 6,2% tổng số loài, các bộ có số lượng họ và loài ít là bộ Bọ ngựa 1,6% và 1,2% tương ứng và bộ Bọ que 1,6% và 0,7% tương ứng.
Các loài Côn trùng quý hiếm: Tổng số 6 loài côn trùng quý hiếm ghi nhận ở Vườn quốc gia Xuân Liên 6 loài đã có mặt trong SĐVN, 2007. Trong đó, có 2 loài bướm là Bướm phượng cánh chim chấm rời Troides aeacus aeacus và Bướm phượng đóm kem Papilio noblei  họ Bướm phượng – Papilionidae; 3 loài cặp kìm là Cặp kìm sừng cong Dorcus curvidens curvidens, Cặp kìm sừng đao Dorcus titanus westermanni và Cặp kìm nẹp vàng Odontolabis cuvera fallaciosa họ Cặp kìm -Lucanidae; một loài Bọ hung năm sừng màu vàng Eupatorus gracilicornis họ Bọ hung- Scarabaeidae.

Đa dạng về Thực vật
Qua điều tra hệ thực vật Vườn quốc gia Xuân Liên đã xác định được 1.142 loài, 620 chi và 180 họ. Trong đó ngành Mộc lan là đa dạng nhất chiếm 87,3% tổng số loài của khu vực nghiên cứu, với 35 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng được ghi trong sách đỏ Việt Nam chiếm 3,06%. Hệ thực vật Xuân Liên có nhiều loài cây có giá trị và cho nhiều công dụng, cây làm thuốc có số loài cao nhất với 296 loài, cây cho gỗ 210 loài, cây ăn được 24 loài, cây làm cảnh 41 loài, thấp nhất là cây cho tinh dầu với 14 loài.

Đa dạng về các taxon thực vật tại Vườn quốc gia Xuân Liên:
Thành phần loài thực vật Vườn quốc gia Xuân Liên, Thanh Hoá, bước đầu đã xác định được 1.142 loài, 620 chi và 180 họ của 5 ngành thực vật bậc cao có mạch và một số loài hạt trần như Thông nàng (Podocarpus imbricatus), Sa mu (Cunninghamia konishii) và Pơ mu (Fokienia hodginsii)
phần lớn các taxon tập trung trong ngành Mộc lan Magnoliophyta với 146 họ chiếm 81,11%; 549 chi chiếm 88,55%; 998 loài chiếm 87,39% so với tổng số họ, chi, loài của hệ thực vật, tiếp đến là ngành Dương xỉ Polypodiophyta 26 họ chiếm 14,44%, 60 chi chiếm 9,68% và 123 loài chiếm 10,77%. Các ngành còn lại Pinophyta, Lycopodiophyta; và Equisetophyta chiếm tỉ lệ không đáng kể, tổng số họ, chi và loài của các ngành này tương ứng là 2,78%: 1,11% : 0,56% tổng số họ, chi và loài của toàn hệ thực vật Xuân Liên.
Từ kết quả điều tra ta thấy điểm nổi bật vẫn là sự phân bố không đều của các loài trong ngành, sự thống trị của các ngành Mộc lan và Dương xỉ, các ngành còn lại chiếm tỉ lệ tương đối thấp. Sở dĩ có sự khác nhau đó là do mỗi vùng mỗi hệ thực vật đều chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên xã hội, sinh thái khác nhau…
Đa dạng về họ thực vật 
Để thấy được tính đa dạng hệ thực vật Xuân Liên, với 10 họ đa dạng nhất từ 21 đến 70 loài chiếm 5,56% tổng số họ nhưng với 351 loài chiếm 30,73% tổng số loài. Các họ điển hình là Thầu dầu Euphorbiaceae 70 loài, Đậu Fabaceae 41 loài; Dâu tằm Moraceae 40 loài; Cà phê Rubiaceae 33 loài; Long não Lauraceae 32 loài
Cây làm thuốc có số loài cao nhất với 315 loài chiếm 27,58% hầu như phân bố ở các họ Thầu dầu Euphorbiaceae, Cỏ roi ngựa Verbenaceae, Cam Rutaceae,…; cây lấy gỗ với 211 loài chiếm 18,48% chủ yếu thuộc các họ Long não Lauraceae,Hoàng đàn Cupressaceae, Ngọc lan Magnoliaceae, Xoan Meliaceae,… Tiếp đến là cây làm cảnh với 41 loài chiếm 3,6%; Cây ăn được có 21 loài chiếm 1,84% thấp nhất là nhóm cây cho tinh dầu với 13 loài.

Nguồn tham khảo: Vườn quốc gia Xuân Liên Việt Nam.

Bài viết liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae