Vườn quốc gia Tà Đùng Việt Nam
Vườn quốc gia Tà Đùng được hình thành trên cơ sở chuyển hạng từ Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng theo Quyết định số 185/QĐ-TTg ngày 08/02/2018 của Thủ Tướng Chính phủ. Với tổng diện tích tự nhiên hơn 20.000 ha,
Vườn quốc gia Tà Đùng nằm trong khu vực Tây Nguyên, là nơi có đặc trưng bởi kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp, đây là các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng nguyên sinh hiếm có của vùng Cao nguyên. Có giá trị đa dạng sinh học cao với 1.406 loài thực vật bậc cao trong đó có 89 loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, có 69 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 27 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN. Hệ động vật có 574 loài thuộc 38 bộ, 124 họ trong đó có 37 loài thuộc diện quý hiếm cần bảo vệ, 34 loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 37 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN và 3 loài Thú đặc hữu cho Việt Nam.
Tà Đùng được xác định là địa điểm bảo tồn quan trọng thuộc khu vực bảo tồn cảnh quan lưu vực sông Đồng Nai, khu vực bảo tồn cảnh quan Nam Trường Sơn và là một phần của khu vực chim đặc hữu cao nguyên Đà Lạt – một trong bốn vùng chim đặc hữu của Việt Nam và một trong 222 vùng chim đặc hữu trên toàn thế giới.
Vị trí địa lý
Vườn quốc gia Tà Đùng thuộc địa giới hành chính xã Đắk Som – huyện Đắk Glong – tỉnh Đắk Nông, giáp ranh với huyện Đam Rông, Lâm Hà và Di Linh – tỉnh Lâm Đồng.
Tọa độ địa lý của BQL Vườn quốc gia Tà Đùng: Từ 11o47’27” đến 11o59’20” vĩ độ Bắc; Từ 107o53’10” đến 108o6,32” kinh độ Đông.
Tổng diện tích tự nhiên của Vườn quốc gia Tà Đùng quản lý: 20.973,7 ha, trong đó:
– Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt: 6.010,2 ha;
– Phân khu phục hồi sinh thái: 10.254,9 ha;
– Phân khu dịch vụ – hành chính: 4.708,6 ha;
Vùng đệm của Vườn quốc gia Tà Đùng có diện tích 24.582,91 ha, giáp ranh với 7 xã thuộc tỉnh Đăk Nông và Lâm Đông.
Chức năng
Bảo tồn và phục hồi tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và phát triển hệ sinh thái tự nhiên; bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn; tổ chức nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế; cứu hộ, bảo tồn phát triển sinh vật; giáo dục môi trường và phát triển dịch vụ, du lịch; xây dựng, tổ chức thực hiện các chương trình, dự án phát triển Vườn quốc gia và cộng đồng địa phương; đảm bảo an ninh quốc phòng và phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn.
Nhiệm vụ và quyền hạn
– Xây dựng Kế hoạch hàng năm và dài hạn để thực hiện nhiệm vụ được giao; tham gia xây dựng các quy hoạch, kế hoạch và tổ chức thực hiện theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và cấp có thẩm quyền.
– Tham mưu xây dựng các Văn bản quy phạm pháp luật theo chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật.
– Thực hiện công tác quản lý, bảo vệ, phát triển, sử dụng rừng; phòng cháy và chữa cháy rừng; phòng trừ sâu bệnh và các sinh vật ngoại lai xâm hại theo quy định của Luật Lâm nghiệp và các quy định khác có liên quan.
– Phối hợp với các đơn vị giáp ranh, các cơ quan chức năng trên địa bàn xây dựng, thực hiện quy chế phối hợp, chương trình, kế hoạch về quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy và chữa cháy rừng; tổ chức đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn, bảo đảm chấp hành pháp luật về Lâm nghiệp thuộc phạm vi được giao quản lý.
VQG Tà Đùng có một lớp thảm thực vật rừng rộng lớn, có tỷ lệ che phủ tới 85% diện tích vùng lõi của Khu bảo tồn, bao gồm rừng nguyên sinh chiếm 48%, rừng thứ sinh các loại 36%. Nếu so sánh với tỷ lệ che phủ của rừng Việt Nam (33,6%) và rừng nguyên sinh của cả nước (10%), thì đây là một trong những vùng có độ che phủ lớn với sự đa dạng của các hệ sinh thái và sinh cảnh phù hợp cho sự cư trú, sinh trưởng, phát triển của khu hệ động vật rất phong phú.
Về sự đa dạng hệ sinh thái, VQG bao gồm các hệ sinh thái sau:
Hệ sinh thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh;
Hệ sinh thái rừng gỗ tự nhiên lá rộng nửa rụng lá;
Hệ sinh thái rừng gỗ tự nhiên lá kim
Rừng tre nứa tự nhiên;
Rừng hỗn giao gỗ tre nứa tự nhiên.
Trong đó HST rừng gỗ tự nhiên lá rộng thường xanh là chủ yếu với diện tích 8416,2 ha , chiếm 44,6% diện tích của toàn bộ VQG.
Đa dạng hệ thực vật
Theo kết quả điều tra của Trung tâm đa dạng sinh học và phát triển – Viện sinh học nhiệt đới năm 2011 và Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam năm 2012 đã ghi nhận được ở VQG Tà Đùng có đến 1.406 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 760 chi và 192 họ của 06 ngành thực vật khác nhau. Trong đó nhóm ngành thực vật hạt kín chiếm đa số (1.251 loài), sau đó là ngành Khuyết thực vật và đến ngành Thực vật hạt trần.
Đa dạng hệ động vật
Theo kết quả nghiên cứu cho thấy tại Khu bảo tồn thiên nhiên Tà Đùng có 574 loài động vật thuộc 38 bộ và 124 họ khác nhau.
Khu hệ thú: Qua kết quả điều tra tại Khu BTTN Tà Đùng, trong 88 loài thú có 37 loài thuộc diện quý hiếm cần bảo vệ, chiếm gần một nửa các loài thú có mặt tại Tà Đùng. Trong đó:
+ Số loài có tên trong Sách đỏ Việt Nam (2007) là 34 loài, gồm 02 loài ở mức rất nguy cấp (CR), 15 loài ở cấp nguy cấp (EN), 15 loài thuộc mức sẽ nguy cấp (VU) và 02 loài gần nguy cấp (LR,nt).
+ Số loài ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2012) là 37 loài trong đó 06 loài ở cấp nguy cấp (EN), 12 loài thuộc mức sẽ nguy cấp (VU), 07 loài sắp bị đe dọa (LR,nt), 11 loài ít lo ngại (LR,lc) và 01 loài thiếu dữ liệu (DD).
Trong các loài quý hiếm, tại Tà Đùng còn có 03 loài thú đặc hữu cho Việt Nam là: Voọc bạc trung bộ Trachypithecus magarita, Vượn má hung Hylobates gabriellae, Chà vá chân đen Pygathrix nigripes. Đặc biệt Tà Đùng là một trong ba khu bảo vệ duy nhất của Việt Nam hiện có loài Hươu vàng còn gọi là Hươu đầm lầy Axis porcinus, đây là loài phụ đặc hữu của Đông Dương và Thái Lan, chúng đang có nguy cơ bị tuyệt chủng do nơi sống bị thu hẹp và săn bắn quá mức.
Khu hệ chim: Trong tổng số 202 loài chim đã ghi nhận, có 16 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN, 2012. Các loài chim của Tà Đùng đặc trưng cho khu hệ chim của Tây nguyên và Nam trung bộ Việt Nam, điển hình như: Gà lôi vằn Lophura nycthemera, Gà tiền mặt đỏ Polyplectron germaini, các loài Khướu đặc hữu có vùng phân bố hẹp như: Khướu đầu đen Garrulax milleti, Khướu ngực đốm Garrulax merulinus, Khướu mỏ dài Jabouileia danjoui.
Ghi nhận được 05 loài đặc hữu của Việt Nam, đó là: Gà tiền mặt đỏ Polyplectron germaini, Gà lôi vằn Lophura nycthemera, Khướu đầu đen Garrulax milleti, Khướu ngực đốm Garrulax annamensis, Khướu mỏ dài Jabouileia danjoui và các phân loài đặc hữu khác có vùng phân bố hẹp trên thế giới đang được quan tâm. Các loài chim đặc hữu cũng chính là các loài chim quý hiếm và phần lớn đó là các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở mức độ khác nhau.
Khu hệ bò sát, ếch nhái:
Kết quả bước đầu đã ghi nhận tổng số 87 loài, trong đó: 49 loài bò sát, 38 loài ếch nhái. Trong số đó có 05 loài bổ sung cho danh sách bò sát ếch nhái của Tây Nguyên, bao gồm hai loài bò sát: Rùa núi vàng Indotestudo elongata và Rùa núi viền Mamouria impressa và ba loài ếch nhái: Cóc mắt chân dài Megophrys longipes, Cóc mày lớn Megophrys major) và Ếch gáy dồ Limnonectes dabanus.
Trong tổng số 87 loài có 16 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam (2007), 06 loài có tên trong Danh lục đỏ IUCN, 2012 và 01 loài đặc hữu của Việt Nam: Nhông đuôi dài việt nam Bronchocela vetnamensis.
Khu hệ côn trùng: có 153 loài thuộc 09 họ, 01 bộ, trong đó có 04 loài trong Sách đỏ Việt Nam. Trong đó có nhiều loài bướm đẹp. Đặc biệt, có loài Bướm phượng đuôi nheo Lamproptera curius là loài mới được bổ sung vào Sách đỏ Việt Nam và loài Bướm phượng cánh chim chấm rời Troides aeacus, Bướm phượng paris Papilio paris cũng chỉ gặp ở vùng này, trong các đai có độ cao dưới 700 m và gần các con suối.
Một số chương trình, dự án đã thực hiện
Về công tác quản lý, bảo vệ và phòng cháy chữa cháy rừng: Được sự quan tâm của các cấp Sở ban ngành, chính quyền địa phương, tập thể đơn vị đã tích cực, chủ động trong công tác tham mưu, chỉ đạo, tăng cường công tác tuần tra kiểm tra; tổ chức lực lượng chốt chặn, truy quét tại các điểm nóng có nguy cơ cao về cháy rừng, phá rừng, lấn chiếm rừng; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động người dân vùng đệm tham gia bảo vệ rừng. Đặc biệt, phát huy hiệu quả việc huy động lực lượng người dân nhận khoán tham gia bảo vệ rừng nhằm phát hiện, ngặn chặn kịp thời và hạn chế được tình trạng xâm hại tài nguyên rừng tại Vườn quốc gia. Đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân vi phạm.
Tiềm năng phát triển Du lịch sinh thái
Vườn quốc gia Tà Đùng được đánh giá là điểm đến hấp dẫn, lý tưởng cho khách du lịch, đặc biệt là những vị khách yêu thiên nhiên. Với khí hậu trong lành, mát mẻ, nhiều nét văn hóa đặc trưng, nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ như: Thác Granít (là một trong những điểm thuộc Di sản công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông); thác mặt trời, suối Đắk Rteng, Đắk Plao….
Việc ngăn dòng thủy điện còn tạo ra hồ nước trên cao có diện tích gần 6.000 ha mặt nước và hình thành nên hàng chục hòn đảo lớn nhỏ được ví như “Hạ Long Tây Nguyên”.
Những du khách yêu thiên nhiên, ưa mạo hiểm có thể chinh phục đỉnh Tà Đùng – điểm cao nhất trong dãy núi thuộc Vườn quốc gia Tà Đùng, độ cao 1.982m so với mực nước biển với đặc trưng là nơi phân bố của loài Chè cổ thụ.
Vùng đệm Vườn quốc gia còn là nơi sinh sống của gần 40 dân tộc với nhiều nét văn hóa truyền thống đặc trưng còn lưu giữ như các Nghề thủ công truyền thống (Dệt thổ cẩm, Đan lát); Các nghi lễ nông nghiệp đặc trưng (Cúng phát rẫy, Cúng đốt rẫy, Cúng lúa trổ đòng, Cúng sắp gieo lúa, Cúng lúa về nhà),… trong đó thuật cồng chiêng đã được tổ chức UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại; Các món ăn đặc sản truyền thống (canh thục, lá nhíp, lá bứa, đọt mây, …).
Bên cạnh đó các dân tộc di cư phía Bắc vào cũng mang theo nhiều nét văn hóa độc đáo (như thổi khèn; trang phục truyền thống của người Mông; các món ăn thắng cố, gà Mông…), vì vậy có thể nói đến với Tà Đùng du khách có thể bắt gặp một “Tây Bắc” trong lòng “Tây Nguyên”. Đây chính là các tài nguyên nhân văn quan trọng cần được bảo tồn và đưa vào khai thác hợp lý để tạo ra ưu thế so sánh với các điểm du lịch khác trong cả nước và khu vực
Đặc biệt, việc thành lập Trung tâm Giáo dục môi trường và Dịch vụ môi trường rừng trực thuộc Ban quản lý Vườn quốc gia Tà Đùng (theo Quyết định số 468/QĐ-SNN, ngày 26/8/2020 của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đăk Nông) là cơ sở pháp lý thuận lợi các nhà đầu tư đến với Tà Đùng nhằm phát triển du lịch sinh thái, góp phần phát triển ngành du lịch và kinh tế xã hội của tỉnh Đắk Nông.
Nguồn tham khảo: Vườn quốc gia Tà Đùng Việt Nam.
Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm phượng lớn
Tên tiếng Anh:Great mormon
Tên Latin:Papilio memnon
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Thực vật Plantae
Thông đỏ bắc
Tên tiếng Anh:Chinese yew
Tên Latin:Taxus chinensis
Dẻ tùng sọc trắng
Tên tiếng Anh:Catkin-yews
Tên Latin:Amentotaxus argotaenia
Thông đỏ lá dài
Tên tiếng Anh:Rakhal
Tên Latin:Taxus wallichiana
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata