Tổng quan về các loài Chim
TỔNG QUAN VỀ LOÀI CHIM
I. Nhận biết về loài chim
Loài chim là một nhóm động vật có khả năng bay cao và phong phú, đa dạng về màu sắc, hình dáng và tập quán. Chúng được phân bố rộng khắp trên toàn cầu, từ các khu vực khắc nghiệt của Bắc Cực đến các rừng nhiệt đới ấm áp ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Với hơn 10.000 loài được biết đến trên thế giới, chim là một trong những nhóm động vật đa dạng nhất trên Trái Đất.
Mỗi loài chim đều có đặc điểm riêng biệt về hình dáng, kích thước, màu sắc và tập quán, cũng từ đó mà hình thành tên các loài chim. Tuy nhiên, chúng có những đặc điểm chung như có bộ lông phủ khắp cơ thể, mỏ, móng và cánh, giúp chúng di chuyển và bay trên không trung. Loài chim cũng có khả năng hót và phát ra những âm thanh khác nhau.
II. Nguồn gốc của các loài chim trên thế giới
Các loài chim trên thế giới đã trải qua quá trình tiến hóa kéo dài hàng triệu năm, bắt đầu từ kỷ Jura khoảng 150 – 200 triệu năm trước đây. Những con chim đầu tiên được biết đến được phát hiện ở các địa điểm khác nhau trên thế giới, từ châu Âu, châu Phi, châu Á cho đến Bắc Mỹ.
Nhiều loài hiện nay đã xuất hiện trong khoảng thời gian 30 triệu năm trước đây. Các nhà khoa học đã đưa ra những giả thuyết về nguồn gốc của các loài chim trên thế giới, trong đó có giả thuyết rằng chúng đều có nguồn gốc từ một tổ tiên chung là một loài khủng long sống cách đây khoảng 160 triệu năm.
Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu về sự tiến hóa của các loài chim thông qua phân tích dữ liệu di truyền của chúng. Từ đó, các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng một số loài đã phát triển các đặc tính độc đáo trong quá trình tiến hóa để phù hợp với môi trường sống của chúng. Ví dụ như những con chim sống trên đỉnh núi có thể bay lượn rất cao, còn những con sống ở môi trường nước có thể lặn xuống đáy sông hoặc biển để bắt mồi.

Đuôi cụt đầu hung – Pitta oatesi – Ảnh: Phùng Mỹ Trung
III. Các đặc điểm sinh học của lớp chim
3.1. Cách di chuyển của loài chim
Loài chim có khả năng di chuyển đa dạng, từ bay trên không trung đến đi trên mặt đất hoặc bơi trên mặt nước. Các loài chim có khả năng mở rộng cánh giúp chúng di chuyển trên không trung một cách dễ dàng. Chúng có thể bay với tốc độ khác nhau, từ bay chậm của các loài chim cúi đầu đến tốc độ bay nhanh của các loài diều hâu.
Bên cạnh bay, nhiều loài còn có thể đi bộ, chạy trên mặt đất. Chúng có thể sử dụng chân để tìm kiếm thức ăn hoặc tìm kiếm nơi để xây tổ. Một số loài cũng có khả năng leo trèo, chẳng hạn như các loài gõ kiến, cú. Chúng sử dụng khả năng leo trèo này để tìm kiếm thức ăn hoặc xây tổ trên các các cây. Các loài chim này thường có móng sắc nhọn, để giúp chúng leo trèo một cách dễ dàng và an toàn.
Một số loài sống gần nước có khả năng bơi như chim cốc, chim lặn, chim cánh cụt. Một số loài như chim lặn gavia không thể đi đứng bình thường trên mặt đất như những loài khác do kết cấu đôi chân chỉ phù hợp di chuyển dưới nước.
3.2. Đặc điểm di truyền
Đặc điểm di truyền của chim là một lĩnh vực quan trọng trong nghiên cứu đa dạng sinh học của loài chim. Như các sinh vật khác, các đặc điểm của chim cũng được truyền từ cha mẹ sang con cái thông qua các gen trong tế bào. Các nghiên cứu di truyền đã cho thấy rằng, các loài chim có đặc điểm di truyền đa dạng và phức tạp.
Trong các loài chim, đặc điểm di truyền được xác định bởi các gen nằm trên các nhiễm sắc thể. Các nhiễm sắc thể có thể là X hoặc Y (giới tính), hoặc các nhiễm sắc thể không giới tính là autosomes. Các gen trên nhiễm sắc thể này quyết định các đặc điểm của chim như màu lông, hình dáng, kích thước, tính cách và hành vi.
Một điểm đặc biệt của di truyền chim là hầu hết các loài đều có số lượng nhiễm sắc thể khác nhau, chẳng hạn như chim cánh cụt chỉ có 36 nhiễm sắc thể, trong khi chim cu có đến 82 nhiễm sắc thể. Điều này tạo ra sự đa dạng sinh học lớn trong lớp chim và cũng khiến cho việc nghiên cứu di truyền trở nên phức tạp hơn.
Các nghiên cứu di truyền cũng đã cho thấy rằng, một số loài có khả năng thích nghi và phát triển gen mới nhanh hơn so với các loài khác. Điều này có nghĩa là các loài chim này có khả năng thích ứng với môi trường sống khác nhau nhanh chóng hơn và có thể tạo ra các dòng loài mới trong thời gian ngắn.

Quắm đầu đen Threskiornis melanocephalus – Ảnh: Phùng Mỹ Trung
3.3. Sức khỏe, tuổi thọ của các loài chim
Sức khỏe và tuổi thọ của các loài chim khác nhau phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như loài, môi trường sống và bệnh tật. Một số con chim sẻ có tuổi thọ từ 4 – 5 tuổi trong khi một số loài khác như hải âu có thể sống tới 50 năm tuổi. Tuổi thọ trung bình giữa các loài chim nuôi và chim hoang dã cũng khác nhau. Tuổi thọ của cú là 15 năm, của vẹt là 20 năm, gà nhà có thể sống tới 30 năm…
Các loài chim thường có sức khỏe tốt và khả năng phục hồi nhanh chóng sau khi bị thương hoặc bệnh tật. Tuy nhiên, những yếu tố như ô nhiễm, sự thay đổi khí hậu và mất môi trường sống có thể gây ra các vấn đề về sức khỏe cho các loài chim. Chúng có thể bị nhiễm độc và mắc các bệnh như cúm chim và bệnh nhiễm trùng đường hô hấp.
Việc chăm sóc sức khỏe cho các loài chim nuôi nhốt cũng rất quan trọng. Chúng cần được bảo vệ khỏi bệnh tật và được cung cấp chế độ ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng. Nếu bị bệnh, các loài chim cần được điều trị kịp thời để tránh tình trạng bệnh lan rộng và ảnh hưởng đến sức khỏe và tuổi thọ của chúng.
IV. Lịch sử phân loại chim
Chim được phân loại lần đầu tiên bởi Francis Willughby và John Ray, đưa ra trong tập sách Ornithologiae năm 1676. Carolus Linnaeus sau đó đã sửa đổi công trình này vào năm 1758 và để lại hệ thống phân loại vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay. Trong hệ thống phân loại Linnaeus, các loài chim được phân vào lớp Aves. Việc phân loại dựa trên nguồn gốc phát sinh đã xếp Aves vào trong nhánh khủng long Theropoda (Khủng long chân thú). Aves cùng với nhóm chị em Crocodilia (Bộ Cá sấu) là những thành viên duy nhất còn sống sót của nhánh bò sát Archosaur. Xét theo phát sinh chủng loại, Aves được xác định là tất cả các hậu duệ của tổ tiên chung gần nhất của các loài chim hiện đại và Archaeopteryx lithographica. Theo định nghĩa này, Archaeopteryx, xuất hiện từ giai đoạn Tithonia của Jura muộn (150 – 145 triệu năm trước), là chi chim sớm nhất được biết đến. Những luận điểm khác, bao gồm Jacques Gauthier và những người ủng hộ hệ thống PhyloCode, đã xác định Aves chỉ bao gồm các nhóm chim hiện đại, chứ không gồm hầu hết các nhóm chim chỉ được biết đến qua hóa thạch, và thay vào đó đã xếp chúng vào nhóm lớn Avialae, một phần để tránh được sự không rõ ràng về vị trí của Archaeopteryx trong giới động vật mà theo quan điểm truyền thống thường coi chúng là những khủng long chân thú.
Tất cả các loài chim hiện đại đều nằm trong phân lớp Neornithes, chia thành hai nhóm: Paleognathae, bao gồm hầu hết các loài không biết bay như đà điểu, và Neognathae đa dạng hơn, chứa tất cả những loài còn lại. Hai nhóm này thường được xếp ở cấp bậc siêu bộ, dù Livezey & Zusi đã đặt chúng ở cấp “cohort“. Tùy vào quan điểm phân loại khác nhau, số lượng loài chim còn tồn tại dao động từ 9.800 cho đến 10.050 loài.
Cò lạo ấn độ Mycteria leucocephala – Ảnh: Phùng Mỹ Trung
Lớp Chim Aves thuộc ngành động vật có xương sống vì chúng có đặc điểm chung của động vật có xương sống gồm một bộ xương bao gồm một cột sống do các đốt sống tạo thành, còn các động vật không xương sống không có một cột sống như vậy. Mặc dù lớp Chim Aves chỉ chiếm phần rất ít của giới động vật, khoảng 10.000 loài trên tổng số khoảng 1.100.000 loài động vật có xương sống. Nhưng chúng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong hệ sinh thái.
Cách sắp xếp, phân loại Chim – lớp, bộ, họ, chi, loài, giống:
Mỗi ngành lại được chia ra các lớp, bao gồm các bộ và cứ tiếp tục như thế. Ví dụ các loài chim Bồ câu có tên chữ Latinh (có giá trị quốc tế) là Columba do Linné (Carl Linnaeus) , nhà sinh vật học Thụy Điển, đặt ra năm 1758, gồm có Bồ câu rừng (Gầm ghì đá) – Columba livia Gmelin , Bồ câu nhà – Columba livia domestica Gmelin và Bồ câu nâu – Columba punicea (Blyth). Trong mỗi tên các loài, thì chữ đầu là tên chi (Genus), chữ thứ hai là tên loài (Species) được xác định, còn tên thứ ba là tên nhà động vật học đã mô tả loài đó, có khi người ta thêm cả năm mô tả để tiện việc xác định và tra cứu. Như trên, chi Columba bao gồm các loài Bồ câu rừng, Bồ câu nhà, Bồ câu nâu. Chi Columba và một số chi khác lân cận như Streptopelia , Treron... họp thành họ Bồ câu Columbidae.Họ này nằm trong bộ Bồ câu Columbiformes , thuộc lớp Chim Aves
Tên khoa học của sinh vật được viết bằng tiếng Latin được khởi sướng bởi Carl Linnaeus, nhà thực vật học Thụy Điển. Cũng giống như tiếng Việt nó gợi cho chúng ta hình dáng của loài vật, ví dụ Columbia punicea , tên gọi chim Bồ câu nâu (từ chữ puniceus có nghĩa là nâu), hoặc nơi sinh sống và tập quán, ví dụ Bồ câu nhà – Columbia livia domestica (domestica là nuôi trong nhà), hoặc là vị trí địa lý: Gà lôi lam hà tĩnh – Lophura hatinhensis (chỉ có phân bố từ miền Trung Việt nam); có khi người ta dùng tên nhà tự nhiên học đã khám phá ra nó hoặc tên người phát hiện ra loài đó như Tắc kè trường – Gecko truongi (loài này do ông Nguyễn Quyảng Trường phát hiện)
Cách viết tên một loài động vật cũng giống như tên một loài thực vật chúng ta phải tuân theo luật danh pháp quốc tế đã qui định. Có thể lấy ví dụ về loài Gà lôi lam hông tía (loài này nằm trong sách đỏ Việt Nam) như sau:
Lophura diardi (Bonaparte, 1856)
Tên chi (genus) Thường được viết in nghiêng và viết hoa chữ cái đầu
Tên loài (species) Thường được viết in nghiêng và không viết hoa chữ cái đầu và nếu có Tên đồng danh (synonym) cũng thường được viết in nghiêng và không viết hoa chữ cái đầu
Tên tác giả (người có công phát hiện hoặc định danh) Thường được viết in đứng và viết hoa chữ cái đầu. Trường hợp tên tác giả được đóng ngoặc là để ghi tên người đầu tiên phát hiện và đặt tên cho loài đó.
Cũng có khi người ta nhầm lẫn loài với giống (nòi). Nòi là bậc phân loại dưới loài. Có thể là nòi (hoặc phân loài) địa lý chỉ khác nhau bởi một số ít chi tiết và sinh sống ở những vùng khác nhau, hoặc là những nòi xuất xứ từ sự chọn lọc nhân tạo do con người thực hiện, ví dụ các nòi chó khác nhau đều có xuất xứ từ một loài chó nhà Canis familiaris.
Rất khó có thể xác định hiện nay có con số chính thức là bao nhiêu loài chim hiện còn sống trên trái đất của chúng ta. Có thể phân loài có khi được xem như loài… lại có nhưng loài mới còn tiếp tục được khám phá và mô tả.
Bài viết liên quan
Côn trùng Insecta
Bướm phượng lớn
Tên tiếng Anh:Great mormon
Tên Latin:Papilio memnon
Bướm nữ chúa rừng vàng
Tên tiếng Anh:Framed jungle queen
Tên Latin:Stichophthalma suffusa
Bọ ngọc buquet
Tên tiếng Anh:Red speckled jewel beetle
Tên Latin:Chrysochroa buqueti
Thực vật Plantae
Thông đỏ bắc
Tên tiếng Anh:Chinese yew
Tên Latin:Taxus chinensis
Dẻ tùng sọc trắng
Tên tiếng Anh:Catkin-yews
Tên Latin:Amentotaxus argotaenia
Thông đỏ lá dài
Tên tiếng Anh:Rakhal
Tên Latin:Taxus wallichiana
Nấm Fungi
Nấm cà
Tên tiếng Anh:Sordid blewit
Tên Latin:Lepista sordida
Nấm ngân nhĩ
Tên tiếng Anh:Snow fungus
Tên Latin:Tremella fuciformis
Nấm kèn
Tên tiếng Anh:Golden chanterelle
Tên Latin:Cantharellus cibarius
Tô sơn Toricelliaceae
Tô sơn sáu cạnh
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Torricellia angulata