Đặc điểm chung
Họ:Tử vi Lythraceae
Lythraceae Jaume 1805 - Một họ thực vật hạt kín thuộc bộ Sim Myrtales. Rất đa dạng gồm cây gỗ, cây bụi, cây thân thảo và một số cây ngập mặn và có giá trị lớn về cảnh quan, thực phẩm, dược liệu và sinh thái. Theo hệ thống phân loại hiện đại (APG IV), họ Lythraceae đã được mở rộng để bao gồm nhiều nhóm trước đây được coi là các họ riêng, trong đó có họ Bần Sonneratiaceae và họ Lựu Punicaceae. Thế giới có 23 chi, khoảng 620 - 650 loài phân bố trên toàn thế giới. Ở Việt Nam có 6 chi, trên 30 loài.
Lythraceae gồm cây gỗ lớn, cây bụi hoặc cây thân thảo, thường có thân non hình tứ giác; các đốt đơn. Lá mọc đối, hiếm khi mọc vòng hoặc so le, đơn, nguyên, có lá kèm, các mấu tuyến có ở nách tại gốc cuống lá, phiến lá có màng hoặc có da. Cụm hoa xác định hoặc không xác định, tạo thành xim, chùm hoa nách hoặc đầu cành, hiếm khi hoa đơn độc. Hoa thường có mùi thơm nhẹ, có xu hướng đối xứng bằng cách tăng hướng từ trục của nhị và nhụy, lá đài dài bằng một nửa hoặc ít hơn chiều dài của ống hoa, có van, hình tam giác hay hình trứng, nhọn, thường xen kẽ với các phần phụ bên ngoài. Cánh hoa 4 - 6, được gắn vào mép trong của ống hoa, xen kẽ với các lá đài, nhăn nheo, có gân lông chim, nhị hoa thường có hai lá đài, đôi khi tiêu giảm thành một vòng đơn trước lá đài hoặc trước cánh hoa, khi có hai lá đài, thì các chỉ nhị của vòng dài trước lá đài dài nhất, được chèn gần gốc của ống hoa hoặc phía trên, bao phấn lưng cố định, đa năng, hiếm khi cố định ở gốc, hướng vào trong, hai ngăn, nứt theo chiều dọc; bộ nhụy hợp nhất, được bao quanh ở gốc bởi mô chứa mật hoa hoặc tuyến mật mở rộng, tạo thành một tuyến mật đơn độc hoặc tuyến mật. Quả nang có các lá đài bao lấy phần dưới, khi già nứt ở đỉnh thành 5 mảnh, có gân giữa hình chữ C được bao quanh bởi một lớp vỏ cứng. Hạt hình tháp ngược hoặc thuôn dài đến hình trứng ngược và lồi lõm, vỏ hạt có hoặc không có lông, phôi thẳng, lá mầm phẳng.
Các nghiên cứu phân tử cho thấy Lythraceae bắt đầu phân hóa vào khoảng 80 - 90 triệu năm trước, cuối kỷ Cretaceous. Sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Cretaceous, họ này đa dạng hóa mạnh trong Paleogene tiếp tục mở rộng trong Neogene. Những thích nghi đáng chú ý gồm chịu hạn, chịu ngập chịu mặn (Sonneratia) thích nghi với côn trùng, chim và dơi thụ phấn.