Bậc phân loại

Đặc điểm chung

Họ:Trạch tả Alismatales

Alismatales R.Br. ex Bercht. & J.Presl, 1820 - Một bộ thực vật hạt kín thuộc  nhánh thực vật Một lá mầm Liliopsida (monocots). Đây là một bộ rất đa dạng về hình thái và sinh thái, đặc biệt phát triển mạnh ở môi trường thủy sinh, đầm lầy và đất ẩm, mặc dù một số họ lại gồm các loài sống trên cạn hoặc biểu sinh. Là một trong những nhánh quan trọng của monocots và có lịch sử tiến hóa khá cổ đại. Các nghiên cứu phát sinh chủng loại phân tử cho thấy  nhánh này bao gồm nhiều dòng thực vật đã thích nghi mạnh với đời sống dưới nước và môi trường đất ngập nước, bán thủy sinh và cỏ biển, đồng thời bao gồm những họ rất khác nhau như Acoraceae, Araceae, Alismataceae và Hydrocharitaceae.
Alismatales rất đa dạng nên khó xác định một bộ đặc điểm hình thái duy nhất cho tất cả các thành viên. Một số đặc điểm thường gặp chủ yếu là cây thân thảo, lá thường có bẹ lá, hình thái rất biến đổi. Nhiều loài có thân rễ (rhizome) hoặc cơ quan dự trữ dưới đất. Nhiều  nhánh là thủy sinh hoặc bán thủy sinh. Hoa thường có cấu tạo khá đơn giản đến phức tạp tùy họ. Một số  nhánh có hoa nhỏ tập trung thành cụm hoa lớn. Một số họ, đặc biệt Araceae, có spadix (một dạng cụm hoa xác định/không xác định với trục cụm hoa dày, mọng và phình to, trên đó các hoa rất nhỏ, thường không cuống, mọc sít nhau) thường được bao bởi spathe (lá bắc “bract” hoặc tập hợp lá bắc biến đổi, thường có kích thước lớn, nằm bao quanh hoặc phía dưới một cụm hoa, đặc biệt là spadix).
Alismatales rất đa dạng sinh thái và là một trong những đặc điểm đáng chú ý nhất. Các dạng sinh thái có thể gặp
Thủy sinh hoàn toàn = Hydrocharis, Vallisneria, Zostera
Bán thủy sinh/đất ngập nước = Alisma, Sagittaria, Limnocharis
Sống trên cạn = Araceae như Amorphophallus, Colocasia, Alocasia.
Biểu sinh hoặc leo = Một số Araceae như Anthurium, Philodendron, Epipremnum.
Một điểm đặc biệt của Alismatales là nhiều lần tiến hóa thích nghi với môi trường nước.
Các thích nghi có thể bao gồm Lá nổi hoặc lá chìm, mô khí (aerenchyma) giúp vận chuyển khí trong mô, hệ thống rễ thích nghi với nền bùn thiếu oxy, thay đổi cấu trúc khí khổng, khả năng thụ phấn trong hoặc trên mặt nước ở một số  nhánh, hình thái thân và lá biến đổi mạnh tùy vị trí trong cột nước.
Các loài cỏ biển (seagrasses) trong Alismatales là một điển hình, đặc biệt quan trọng về quá trình thích nghi trở lại với môi trường biển của thực vật hạt kín. Một số dòng thuộc Alismatales đã trở thành cỏ biển thực thụ Zosteraceae - Zostera, Cymodoceaceae - Cymodocea, Hydrocharitaceae - Thalassia, Halophila. Chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái ven biển, tạo thành thảm cỏ biển, cung cấp nơi cư trú và kiếm ăn cho nhiều sinh vật biển, đồng thời góp phần lưu trữ carbon trong hệ sinh thái ven biển.
Một điểm tiến hóa đáng chú ý chi Thạch xương bồ Acorus  thuộc họ Thạch xương bồ Acoraceae có hình thái cụm hoa dạng spadix khá giống với họ Ráy Araceae trong bộ Alismatales, khiến nó từng bị xếp nhầm vào Araceae trong lịch sử phân loại học. Tuy nhiên, các phân tích phát sinh chủng loại phân tử hiện đại cho thấy Acoraceae thực chất thuộc một bộ hoàn toàn riêng biệt bộ Thạch xương bồ Acorales và là nhánh họ hàng với toàn bộ các một lá mầm còn lại, chứ không nằm trong Alismatales. Trong khi đó, Araceae vẫn là một họ chính thức bên trong Alismatales, cùng phân bố spadix nhưng có nguồn gốc tiến hóa độc lập với Acorus."Alismatales là bộ đặc biệt quan trọng trong cây tiến hóa thực vật một lá mầm - vừa là vị trí phân nhánh sớm, vừa vì đây là nhóm quay trở lại môi trường nước lớn nhất trong toàn bộ thực vật có hoa. Điểm mấu chốt về mặt sinh thái tiến hóa là thực vật trên cạn ban đầu tiến hóa từ tảo nước ngọt cách đây khoảng nửa tỷ năm, nhưng thực vật có hoa đã quay trở lại môi trường nước từ thời kỳ đầu kỷ Creta và lặp lại nhiều lần sau đó độc lập nhau. Alismatales chính là nhánh lớn nhất trong số các nhóm thực vật có hoa sống dưới nước, bao gồm toàn bộ các loài cỏ biển (seagrass) hiện biết đến, cùng nhiều loài trên cạn khác.
Thực vật thủy sinh chỉ chiếm 1-2% tổng số loài thực vật có hoa hiện tại, nhưng lại xuất hiện ở khoảng 17% số họ thực vật, đại diện cho khoảng 100 sự kiện tiến hóa độc lập quay lại môi trường nước và Alismatales là minh chứng điển hình, nổi bật, đa dạng nhất trong số đó.
Alismatales thể hiện hầu như toàn bộ các dạng sống thủy sinh có thể nổi trên mặt nước, lá nổi, chìm hoàn toàn dưới nước (dạng thích nghi cực đoan nhất), và một số loài vẫn sống trên cạn hoặc đất ngập nước. Khi giải phẫu sinh lý cho thấy mô khí (aerenchyma) ở rễ, thân, lá giúp tăng khả năng thu nhận và vận chuyển oxy trong môi trường thiếu oxy. Tăng cường đường phân (glycolysis) và lên men ethanol ở cấp độ trao đổi chất để đối phó tình trạng thiếu oxy.