Đặc điểm chung
Họ:Thủy xương bồ Acoraceae
Acoraceae Martinov, 1820 - Một họ thực vật hạt kín thuộc bộ Thủy xương bồ Acorales. Đây là một trong những loài thực vật phân kỳ sớm nhất của lớp thực vật Một lá mầm Liliopsida (monocots). Chi Acorus được xem là nhánh họ hàng của toàn bộ các monocot còn lại trong các hệ thống phát sinh chủng loại hiện đại. Acoraceae là họ duy nhất của Acorales, hiện chỉ có chi Acorus, nổi bật với cây thân thảo sống ở nơi ẩm, thân rễ thơm, lá hình kiếm và cụm hoa spadix (một dạng cụm hoa xác định/không xác định với trục cụm hoa dày, mọng và phình to, trên đó các hoa rất nhỏ, thường không cuống, mọc sít nhau). Acorus đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu tiến hóa sớm của thực vật một lá mầm.
Acoraceae chỉ có một chi Acorus thường là cây thân thảo lâu năm, sống ở vùng đất ẩm, đầm lầy, ven suối, vùng nước nông. Có thân rễ (rhizome) nằm ngang dưới đất, thường thơm do chứa tinh dầu. Từ thân rễ mọc → rễ → lá → cụm hoa. Lá dài và hẹp, hình kiếm, mọc từ thân rễ, có gân song song, đặc trưng của monocot. Cụm hoa spadix là đặc điểm rất dễ nhận biết. Chi Acorus tạo một spadix – cụm hoa có một trục mập mang rất nhiều hoa nhỏ, sít nhau. Hoa thường mọc trực tiếp hoặc gần như trực tiếp trên trục. Một điểm thú vị là Acorus có spadix nhưng không có spathe (lá bắc “bract” hoặc tập hợp lá bắc biến đổi, thường có kích thước lớn, nằm bao quanh hoặc phía dưới một cụm hoa, đặc biệt là spadix) lớn, nổi bật như nhiều loài thuộc họ Ráy Araceae. Điều này rất đáng chú ý khi so sánh: Acoraceae → Acorus với Araceae → Anthurium hay Amorphophallus và Colocasia... Cả hai đều có spadix, nhưng chúng không phải cùng một họ. Hoa của Acorus rất nhỏ và thường lưỡng tính, có 6 phiến bao hoa (tepals), 6 nhị, 3 lá noãn hợp tạo thành bầu. Hoa nhỏ nên giá trị nhận dạng chủ yếu nằm ở cụm hoa và đặc điểm sinh dưỡng. Quả của Acorus thường thuộc dạng quả mọng nhỏ hoặc dạng quả thịt tùy cách mô tả/phân loại. Hạt có nội nhũ.
Thân rễ Acoraceae chứa các hợp chất dễ bay hơi trong tinh dầu monoterpenes + sesquiterpenes + phenylpropanoids.
| Đặc điểm | Monoterpene | Sesquiterpene | Phenylpropanoid |
| Số carbon | C10 | C15 | C6-C3 (biến thiên) |
| Nhóm hóa học | Terpenoid | Terpenoid | Không phải terpenoid |
| Tiền chất | 2× isoprene (MEP) | 3× isoprene (MVA) | Phenylalanine (shikimate) |
| Độ bay hơi | Cao | Trung bình | Biến thiên |
| Ví dụ | Limonene, pinene | Caryophyllene, farnesene | Eugenol, asarone |
Trong đó nhóm asarone (một hợp chất phenylpropanoid "cụ thể thuộc nhóm phenylpropene / alkenylbenzene", là thành phần chính tạo nên mùi hương và hoạt tính sinh học đặc trưng của tinh dầu chi Acorus) đặc biệt đáng chú ý α-asarone, β-asarone, γ-asarone, β-asarone có những vấn đề về độc tính và an toàn, vì vậy không nên tự sử dụng tinh dầu hoặc chế phẩm Acorus với mục đích điều trị.
Thạch xương bồ lá nhỏ Acorus calamus loài được biết đến rộng rãi nhất. Thân rễ chứa nhiều tinh dầu, trong đó có các hợp chất nhóm asarone. Đặc biệt, thành phần tinh dầu thay đổi giữa các quần thể và dòng hóa học, một số dạng có hàm lượng β-asarone đáng kể. Thạch xương bồ lá lớn Acorus gramineus loài có kích thước thường nhỏ hơn Acorus calamus, được trồng làm cây cảnh, cây thuốc và gặp ở môi trường ẩm ở độ cao trên 800m.
Vị trí phát sinh chủng loại của Acoraceae là độc nhất vô nhị vì điểm quan trọng nhất về mặt tiến hóa của họ này được ghi nhận là tổ tiên của thực vật một lá mầm monocots. Với các nghiên cứu phát sinh chủng loại hiện đại (dựa trên cả bộ gen lục lạp và bộ gen nhân) đều đồng thuận rằng Acoraceae là dòng họ hàng (sister lineage) với tất cả các loài một lá mầm còn tồn tại khác. Nói cách khác, trong toàn bộ lớp thực vật một lá mầm (~77 họ, hàng chục nghìn loài) thì Acoraceae tách ra đầu tiên, trước khi tất cả các nhóm một lá mầm khác phân nhánh tiếp.
Điều này khiến Acoraceae có vai trò tương tự như đối với thực vật có hoa nói chung, hay giống như bộ Mao lương Ranunculales đối với thực vật hai lá mầm Dicotyledons thật. Tức là một "hóa thạch sống" về mặt phát sinh chủng loại, cực kỳ quan trọng để suy luận đặc điểm của tổ tiên chung một lá mầm. Sự phân tách giữa Acorales và các nhóm một lá mầm còn lại được ước tính vào khoảng 140 triệu năm trước. Tức là từ giữa kỷ Creta, sớm hơn rất nhiều so với các họ đã thảo luận trước đó (Orchidaceae ~77-132 triệu năm, Amaryllidaceae ~48,6 triệu năm).