Bậc phân loại
- Ngành:Dương xỉ Polypodiophyta
- Ngành:Hạt kín Magnoliophyta
- Ngành:Hạt trần Gymnospermae
- Lớp:Bạch quả Ginkgoopsida
- Lớp:Dây gắm Gnetopsida
- Lớp:Thông Pinopsida
- Lớp:Tuế Cycadopsida
- Ngành:Rêu Bryophyta
- Ngành:Rong biển đỏ Rhodophyta
- Ngành:Song tinh bào Streptophyta
- Ngành:Thông đất Lycopodiophyta
Đặc điểm chung
Lớp:Thực vật Plantae
Plantae H.F.Copel., 1956 - Gồm những sinh vật nhân thực tạo nên giới Thực vật Plantae. Plantae gồm các loài (species) có khả năng tạo cho mình chất dinh dưỡng từ những hợp chất vô cơ đơn giản và chuyển hóa thành những phần tử phức tạp nhờ quá trình QUANG HỢP. Quang hợp là quá trình hấp thu năng lượng ánh sáng nhờ vào các sắc tố màu lục - DIỆP LỤC (có ở hầu hết các loài thực vật, không có ở động vật). Thực vật còn đặc trưng bởi có vách tế bào bằng Xenluloza (động vật không có) và không có khả năng chuyển động tự do (ngoại trừ một số thực vật hiển vi).
Thực vật điển hình gồm có:
Tế bào nhân thực (Eukaryota).
Thành tế bào chủ yếu chứa cellulose.
Có lục lạp chứa chlorophyll (diệp lục) a và b ở thực vật xanh.
Phần lớn thực hiện quang hợp.
Có khả năng tích lũy carbohydrate (carbon “C”, hydrogen “H” và oxygen “O”), chủ yếu dưới dạng tinh bột.
Có chu kỳ sống đặc trưng với sự luân phiên giữa thể giao tử và thể bào tử.
Plantae còn khác với Animalia ở khả năng phản ứng rất chậm với sự kích thích, để thích nghi, Plantae thường phải có thời gian và có nguồn kích thích kéo dài. Ngoài ra Plantae còn gồm một số loài thực vật ký sinh, cộng sinh và hoại sinh, không có diệp lục, không thể quang hợp, nên các loài này phải sống nhờ năng lượng từ các thực vật khác hoặc nấm.
Tiến hóa của thực vật gồm có:
Thực vật có phôi - Embryophyta. (bắt nguồn từ: embryo = phôi -phyta = thực vật → Embryophyta = thực vật có phôi). Là những loài thực vật khởi đầu mà chúng ta thường nghĩ đến khi nói "thực vật trên cạn". Bao gồm Bryophytes (các loài Rêu thật - Bryophyta (mosses), Rêu tản - Marchantiophyta (liverworts), Rêu sừng - Anthocerotophyta (hornworts). Những loài này chưa có hệ mạch thật sự như thực vật có mạch, thể giao tử thường chiếm ưu thế, sinh sản thường phụ thuộc nhiều vào nước.
Tracheophyta - Thực vật có mạch (vascular plants). Có hệ thống dẫn truyền chuyên hóa là Mạch gỗ (xylem) để vận chuyển nước + khoáng chất. Mạch rây (phloem) để vận chuyển sản phẩm quang hợp và các chất hữu cơ. Thực vật có mạch gồm Lycophytes (thực vật có mạch cổ) + Monilophytes (dương xỉ và họ hàng) + Thực vật có hạt (seed plants).
Spermatophyta - Thực vật có hạt (seed plants). Đây là một bước tiến hóa rất quan trọng. Gồm hai ngành lớn là Thực vật hạt trần (gymnosperms), gồm các loài (Thông, Tuế, Bạch quả, Tuế gai…), với đặc điểm hạt không được bao kín trong quả và Thực vật hạt kín (angiosperms), gồm phần lớn thực vật có hoa, với đặc điểm noãn nằm trong bầu nhụy; sau thụ tinh, bầu nhụy phát triển thành quả. Các loài đại diện (Lúa, Ngô, Cau, Hoa hồng, Xoài và nhiều cây rừng nhiệt đới khác...).
Angiosperms - Thực vật hạt kín. Đây là những loài thực vật đa dạng nhất hiện nay. Có hai lớp thực vật lớn thường được sử dụng trong hệ thống phân loại hiện đại gồm Một lá mầm (monocots), các loài đại diên thuộc họ Cỏ Poaceae, Cau dừa Arecaceae, Chuối Musaceae, Phong lan Orchidaceae… và Hai lá mầm thật (eudicots), bao gồm rất nhiều loài trong các họ Dẻ Fabaceae, Hoa hồng Rosaceae, Cam Rutaceae, Dâu tằm Moraceae, Na Anacardiaceae và họ Cúc Asteraceae... (Monocot = Monocotyledons = thực vật một lá mầm, Dicot = Dicotyledons = thực vật hai lá mầm") không hoàn toàn tương đương với một phân chia đơn giản thành hai lớp ngang hang. Eudicots là một nhánh tiến hóa hoặc nhánh phát sinh chủng loại, còn Dicots (thực vật hai lá mầm, thuật ngữ truyền thống dùng để chỉ các thực vật hạt kín có phôi với hai lá mầm) theo nghĩa truyền thống không phải lớp đơn ngành.
Plantae có lịch sử tiến hóa rất dài, bắt đầu từ các sinh vật nhân thực quang hợp có quan hệ với khuẩn lam (cyanobacterium) sống bên trong tế bào cách đây hàng tỷ năm. Theo thời gian hình thành thực vật có phôi, tiến lên thực vật có mạch, thực vật có hạt và cuối cùng là sự bùng nổ của thực vật hạt kín, thực vật có nguồn gốc tiến hóa từ vi khuẩn lam. Điểm quan trọng là Plantae không tiến hóa theo một đường thẳng, mà phân nhánh thành nhiều dòng khác nhau. Các bằng chứng từ bào tử hóa thạch cho thấy những loài thực vật gần với thực vật trên cạn đã xuất hiện ở kỷ Ordovic 470 - 450 Ma thuộc Đại Cổ sinh Paleozoic. Tổ tiên của chúng có thể giống các dạng thực vật nhỏ, chưa có rễ thật, lá thật hoa và hạt.