Đặc điểm chung

Họ:Thằn lằn Lacertidae

Lacertidae Oppel, 1811 - Là một họ thằn lằn rất đa dạng, gồm hơn 350 loài phân bố chủ yếu ở châu Âu, châu Phi và châu Á. Đây là nhóm thằn lằn mà con người thường nghĩ tới đầu tiên khi nhắc đến "lizard", nên chúng được gọi là thằn lằn thật (true lizards).
Hầu hết các loài thuộc họ Lacertidae có thân thuôn dài, đầu tam giác, cổ rõ. Đuôi rất dài, thường dài gấp 1,5 - 3 lần chiều dài thân. Chạy rất nhanh, linh hoạt trong các bụi cây, cỏ thấp, rậm rạp. Đặc điểm phân loại quan trọng là có vảy bụng lớn, xếp thành hàng đều, hình chữ nhật hoặc vuông. Khác với họ Thằn lằn bóng Scincidae (có vảy bóng, tròn hơn). Khác với họ Tắc kè Gekkonidae (có vảy nhỏ, không xếp hàng rõ ràng). Lacertidae có mí mắt thật và có thể nhắm mắt. Điều này giúp phân biệt với nhiều loài thuộc họ Tắc kè Gekkonidae, vốn không có mí mắt di động. Đa số những loài thuộc Lacertidae ăn động vật ăn thịt nhỏ, côn trùng. Nhện. Giun. Sâu bọ. Ốc nhỏ. Một số loài lớn còn ănth ằn lằn nhỏ, trứng chim, quả và hạt. Hầu hết các loài thuộc họ này đẻ trứng (oviparous). Mỗi lứa đẻ từ 2 - 20 trứng. Tuy nhiên, một số loài sống ở vùng lạnh đã tiến hóa thành đẻ con trứng (viviparous), tiến tới các loài đẻ con và là mô hình quan trọng để nghiên cứu sự tiến hóa của viviparity.
Lịch sử tiến hóa của họ Lacertidae được ghi nhận xuất hiện khoảng 70 - 90 triệu năm trước, vào cuối Cretaceous. Sau đó, với sự đa dạng mạnh ở châu Âu và châu Phi đã giúp họ này hích nghi với các kiểu nơi sống tư sa mạc, đồng cỏ đến các khu vực rừng, núi cao. Ngày nay, Lacertidae là một trong những họ thằn lằn thành công nhất ở Cựu thế giới (Old world).