Đặc điểm chung

Họ:Thạch sùng mí Eublepharidae

Eublepharidae Boulenger, 1883 - Một họ Thằn lằn thuộc bộ Có vảy Squamata, thường được gọi là Thằn lằn mí (eyelid geckos), vì chúng có mí mắt di động, trong khi phần lớn nhánh Tắc kè điển hình Gekkota (một nhánh “clade” của bộ có vảy squamata) có mắt được phủ bởi một lớp màng trong suốt và không có mí mắt hoạt động như vậy.
Tên Eublepharidae xuất phát từ tiếng Hy Lạp eu- = tốt/thật, blephar- = mí mắt → có thể hiểu là "có mí mắt phát triển". Đây là đặc điểm giúp phân biệt chúng với nhiều Gekkota khác. Trong khi nhiều tắc kè thuộc các nhánh khác có mắt được bảo vệ bởi một lớp màng trong suốt, thay vì mí mắt đóng mở bình thường. Eublepharidae hầu hết là những loài bò sát kiếm ăn, hoạt động về đêm (nocturnal). Ban ngày thường → trú trong hang/khe đá → giảm hoạt động → tránh nhiệt độ cao. Ban đêm → ra ngoài kiếm ăn → săn côn trùng và các động vật nhỏ.
Eublepharidae không có đĩa đệm bám kiểu tắc kè leo kính thuộc họ Tắc kè Gekkonidae. Đây cũng là một đặc điểm rất thú vị. Một số loài trong Gekkonidae có = lamellae → setae → spatulae → lực Van der Waals, nhờ đó có thể treo ngược trên mặt phẳng của  kính, tường, trần nhà. Eublepharidae nhìn chung không có hệ thống đệm ngón chân phát triển theo kiểu đó. Thay vào đó, chúng thường có móng vuốt rõ ràng và thích nghi tốt với đời sống trên mặt đất → trong vách hang đá → trên nền đá/sỏi.
Một số loài có đuôi khá dày, đặc biệt rõ ở chi Thạch sùng mí Goniurosaurus và chi Thằn lằn báo Eublepharis. Đuôi đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình dự trữ năng lượng → hỗ trợ sinh tồn khi thức ăn khan hiếm và giống nhiều thằn lằn khác, chúng có cơ chế tự rụng đuôi (autotomy) khi bị kẻ săn mồi tấn công, đây còn là cơ chế chống lại kẻ săn mồi (anti-predator). Sau đó đuôi có thể tái sinh, nhưng đuôi tái sinh thường không hoàn toàn giống đuôi ban đầu về cấu trúc và hình thái.
Eublepharidae chủ yếu là các loài noãn sinh (oviparous). Quá trình sinh sản = Giao phối → Thụ tinh trong → Hình thành trứng → Đẻ trứng → Phôi phát triển trong trứng → Con non nở. Một số loài đẻ nhiều lứa trong một mùa sinh sản. Một số loài Eublepharidae là đối tượng nghiên cứu về temperature-dependent sex determination (TSD), xác định giới tính phụ thuộc nhiệt độ môi trường. Đặc biệt, khi nghiên cứu cơ chế này cho thầy = nhiệt độ môi trường → phát triển phôi → giới tính con non. Tuy nhiên, cơ chế và mức độ ảnh hưởng của nhiệt độ không giống nhau ở tất cả các loài, nên không nên áp dụng một quy luật nhiệt độ duy nhất cho toàn bộ họ Thạch sùng mí Eublepharidae.
Eublepharidae ăn động vật nhỏ, đặc biệt là côn trùng, sâu, nhện, các động vật chân khớp nhỏ, đôi khi các con mồi nhỏ khác trong khu vực phân bố.
So sánh Thạch sùng mí Eublepharidae với Tắc kè Gekkonidae

Đặc điểm Eublepharidae Gekkonidae
Mí mắt Có mí mắt di động Phần lớn không có mí mắt di động
Hoạt động Chủ yếu ban đêm Chủ yếu ban đêm, nhưng đa dạng
Đệm ngón chân Không phát triển kiểu chân của tắc kè leo kính Nhiều loài phát triển rất tốt kiểu chân của tắc kè leo kính
Móng Phát triển rõ Tùy nhánh (Cyrtodactylus, Cnemaspis) 
Đuôi tự rụng Có Ở nhiều giống (Cyrtodactylus, Gekko) 
Thức ăn Chủ yếu côn trùng, chân đốt Chủ yếu động vật nhỏ, côn trùng, chân đốt
Sinh sản Chủ yếu đẻ trứng Chủ yếu đẻ trứng

Lịch sử hóa thạch của Eublepharidae cònkhá hạn chế, vì cơ thể tắc kè nhỏ và xương tương đối dễ bị phá hủy. Các nghiên cứu phát sinh chủng loại cho thấy Eublepharidae là một nhánh cổ trong Gekkota, nhưng việc xác định chính xác thời điểm họ này tách khỏi họ Tắc kè Gekkonidae vẫn còn phụ thuộc vào hóa thạch được sử dụng làm điểm hiệu chuẩn, dữ liệu phân tử, phương pháp dựng cây tiến hóa, mô hình đồng hồ phân tử. Vì vậy, ghi một con số tuổi duy nhất không thể là giá trị chắc chắn.