Đặc điểm chung

Họ:Rùa Testudinata

Testudinata Klein, 1760 - Bộ động vật bò sát bao gồm rùa cạn, rùa nước ngọt và rùa biển. Đây là nhóm bò sát có đặc điểm nổi bật nhất là mai (carapace) và yếm (plastron) bao bọc cơ thể, một cấu trúc độc đáo không có ở bất kỳ nhóm động vật có xương sống nào khác. Rùa là một trong những nhóm bò sát cổ xưa nhất còn tồn tại, với lịch sử tiến hóa kéo dài hơn 230 triệu năm. Hiện nay, bộ Testudines có khoảng 14 họ, với 95 giống và hơn 360 loài còn sinh tồn.
Testudinata có nhiều đặc điểm rất đặc trưng như cơ thể được bao bọc bởi mai lưng (carapace), yếm bụng (plastron) bằng keratin hóa. Xương sườn và đốt sống hợp nhất với mai. Không có răng, thay vào đó là mỏ sừng sắc bén. Da phủ vảy sừng keratin. Bốn chân cột ở rùa cạn, chân có màng bơi ở rùa nước ngọt, chân trước biến thành mái chèo ở rùa biển. Testudinata có tuổi thọ rất cao, nhiều loài rùa biển đã ghi nhận có tuổi thọ 320 năm. Kích thước rất đa dạng từ nhỏ nhất loài Chersobius signatus chỉ dài khoảng 8 - 10 cm và loài lớn nhất còn sống Dermochelys coriacea có chiều dài cơ thể trên 2 m và khối lượng có thể vượt 900 kg. Rùa cạn lớn nhất Chelonoidis niger, nặng trên 250 kg, rùa nước ngọt lớn nhất Rafetus swinhoei. Testudinata phân bố rộng khắp thế giới, ngoại trừ Nam cực và thích nghi với nhiều sinh cảnh sống từ nước ngọt rừng thường xanh, đồng cỏ, sa mạc đến ao hồ, sông suối, đầm lầy cửa song đến nước mặn biển. Chế độ ăn thay đổi theo từng loài, rùa cạn ăn thực vật, cỏ, lá, hoa, quả, nấm và giáp xác. Rùa nước ngọt ăn tạp gồm động, thực vật thủy sinh. Rùa biển lúc chưa trưởng thành ăn động vật biển, trưởng thành ăn thực vật biển nhiều hơn ăn động vật. Testudinata thụ tinh trong, tất cả các loài còn sống đều đẻ trứng. Trứng được chôn trong cát hoặc đất. Không chăm sóc con sau khi nở (ngoại trừ một số hành vi bảo vệ tổ ở vài loài nước ngọt). Nhiệt độ môi trường ở tổ trứng sẽ quyết định giới tính của con non. Testudinata đóng vai trò quan trọng trong việc phát tán hạt (đặc biệt là rùa cạn), kiểm soát sinh vật thủy sinh. Duy trì thảm cỏ biển (rùa biển). Là nguồn thức ăn cho nhiều động vật khác ở giai đoạn trứng và con non. Góp phần cân bằng hệ sinh thái biển và nước ngọt.
Các hóa thạch cổ nhất của rùa xuất hiện vào cuối kỷ Trias, khoảng 220 - 230 triệu năm trước. Những dạng cổ như Proganochelys quenstedti đã có mai phát triển hoàn chỉnh nhưng chưa thể rút đầu vào mai. Hai phân bộ hiện đại Pleurodira và Cryptodira phân hóa vào kỷ Jura. Các phân tích phân tử hiện nay cho thấy rùa là thành viên của nhóm Archelosauria, có quan hệ gần với Archosauria (cá sấu và chim) hơn là với Squamata (thằn lằn và rắn).