Đặc điểm chung

Họ:Rầy đầu dài Dictyopharidae

Dictyopharidae Spinola, 1839 - Rầy đầu dài Dictyopharidae là một họ côn trùng, rất gần với họ Ve sầu vòi voi Fulgoridae. Họ này bao gồm gần 760 loài được phát hiện và công bố trong hơn 150 giống và được chia thành hai phân họ chính Dictyopharinae và Orgeriinae.
Giống như tất cả các loài côn trùng đầu dài fulgoroids khác, Dictyopharidae có anttena mọc ở phía bên đầu, dưới mắt (không ở giữa hai mắt như các loài trong họ Ve sầu Cicadoidea). Nhiều loài có một phần đầu thuôn, kéo dài dài. Đặc điểm nổi bật là phần đầu kéo dài ra trước, đôi khi rất cực đoan và là đặc điểm dễ nhận ra nhất. Cơ thể thon dài, mảnh, cao giống cây gai hoặc cành khô. Cánh trong suốt có mạng gân dày. “Dictyopharidae” liên quan đến mạng gân cánh dạng lưới. Dictyopharidae là họ côn trùng chích hút. Chúng dùng vòi hút nhựa cây và thường sống trên cây bụi, cỏ thân cây lá. Vòng đời của các loài trong họ này là những loài biến thái không hoàn toàn (Hemimetabolism - Biến thái không hoàn toàn thường có vòng đời gồm 3 giai đoạn chính Trứng "eggs" → Thiếu trùng "nymph - không có cánh hoàn chỉnh"Trưởng thành "adult - có cánh đầy đủ". Thiếu trùng có hình dạng giống con trưởng thành nhưng nhỏ hơn. Chúng chưa có cánh và cơ quan sinh sản hoàn chỉnh. Thiếu trùng sẽ lột xác nhiều lần cho đến khi trở thành con trưởng thành).
Các giả thuyết cho rằng chiếc đầu dài giúp Dictyopharidae ngụy trang hoàn hảo trong tự nhiên, thân hình giống gai cây cành nhỏ lá khô khiến kẻ thù khó nhận ra chúng là côn trùng. Cách ngụy trang đứng bất động trên cành gần như “biến mất” khỏi nền môi trường hay giống nấm mốc gai cây vỏ khô là những phương cách khôn ngoan nhất của kẻ yếu nếu muốn tồn tại. Hóa thạch của loài này được ghi nhận ở tuổi Santonian của cuối kỷ Creata (khoảng 145 triệu đến 66 triệu năm trước). Hóa thạch cổ đại nhất được tìm thấy, loài Netutela annunciator thuộc bộ Dictyopharine đã tuyệt chủng và được mô tả từ hổ phách Taymyr trên bán đảo Taymyr của Nga. Một hóa thạch hổ phách khác, có niên đại gần hơn được ghi nhận từ nguồn gốc địa chất của hổ phách Baltic hình thành vào kỷ Eocene (khoảng 66 triệu đến 23 triệu năm trước).