Đặc điểm chung

Họ:Rắn hổ Elapidae

Elapidae F. Boie, 1827 - Gồm các loài thân phủ một lớp vảy sừng, có nọc độc thần kinh rất nguy hiểm. Đặc điểm dễ phân biệt với các họ rắn khác là có đầu hình bầu dục, không phân biệt rõ với cổ, trên đầu có phủ vảy hình tấm ghép sát nhau. Thiếu tấm gian đỉnh, tấm má và hố má. Trong bộ răng thường có 2 răng (fangs - móc) độc ở phía trước hàm trên. Móc độc thường lớn hơn hẳn các răng khác và có rãnh hoặc hình ống. Thức ăn của chúng là những loài thú nhỏ và rắn khác. Trên thế giới có khoảng 380 - 400 loài trong hơn 60 giống, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Có khoảng 15 loài thuộc họ này phân bố ở Việt Nam thuộc 5 giống.
Căn cứ vào di truyền và hình thái học, các nhà nghiên cứu bò sát đã đưa họ Rắn biển Hydrophiidae thành một họ phụ của Rắn hổ Elapidae. Hydrophiidae gồm những loài bò sát chủ yếu sống ở biển hay các đảo ven bờ, có nọc độc cực độc gấp 10 lần các loài rắn độc ở trên cạn. Đặc điểm dễ phân biệt với các loài cùng họ khác là có đầu thường nhỏ hơn nhiều so với thân. Bộ xương còn di tích đai hông và xương đùi, đuôi dẹt để thích nghi với điều kiện bơi, lặn và là loài bơi lặn rất giỏi. Thường có những vạch ngang vùng vảy lưng. Thức ăn của chúng là các loài sinh vật biển. Hầu hết các loài rắn biển đẻ trứng, nhưng các loài thuộc giống Hydrophis đẻ con trứng dưới nước. Mỗi năm sinh sản 1 lứa mỗi lứa từ 3 - 5 con.
Các nghiên cứu phân tử cho thấy Elapidae xuất hiện khoảng 35 - 50 triệu năm trước, có nguồn gốc từ rắn cổ Caenophidia (phân nhánh lớn của rắn Serpentes, thường được gọi là “rắn tiến hóa cao”. Đây là nhóm rắn chiếm phần lớn các loài rắn hiện nay trên thế giới).  Các họ gần với họ Rắn hổ Elapidae là họ Rắn châu phi Lamprophiidae, Rắn nước Colubridae. Hai nhánh tiến hóa lớn của họ Rắn hổ Elapidae là ở trên cạn và dưới nước. Ở trên cạn gồm các giống Ophiophagus, Naja, Bungarus, Dendroaspis…thích nghi đời sống, kiếm ăn trên cạn. Dưới nước gồm các giống rắn biển Hydrophis, Laticauda… Với đặc điểm thích nghi đời sống dưới nước vì có phổi dài đuôi dẹt khả năng lặn sâu, ở môi trường biển tuyến da của chúng có khả năng chịu mặn, trao đổi oxy, đẻ con trứng dưới nước. Các tiến hóa để thích nghi nổi bật của họ này là có Nọc độc thần kinh mạnh chủ yếu Neurotoxin, Cardiotoxin để tấn công vào hệ thần kinh con mồi và giết chết con mồi rất nhanh.