Đặc điểm chung

Họ:Mèo Felidae

Felidae Fischer von Waldheim, 1817 - Là họ động vật có vú ăn thịt thuộc bộ Ăn thịt Carnivora, bao gồm tất cả các loài mèo từ mèo nhà đến các loài săn mồi lớn như sư tử và hổ. Đây là một trong những nhóm săn mồi hiệu quả nhất trong thế giới động vật, phân bố rộng khắp các châu lục (trừ Antarctica).
Đặc điểm cầu tạo họ Felidae có cơ thể linh hoạt, cột sống cực kỳ dẻo, cơ chân mạnh, khả năng bật nhảy và xoay người tốt. Đây là nhóm săn mồi dựa nhiều vào phương cách phục kích (ambush predator). Phần lớn họ này có móng vuốt sắc, nhọn, có thể thu vào trong khi di chuyễn, giúp chúng giữ vuốt sắc lâu và di chuyển êm, không gây tiếng động. Răng chuyên hóa ăn thịt, răng nanh dài để cắn chết con mồi, răng hàm có nhiều mấu sắc (carnassial teeth) dung để cắt thịt. Công thức răng 3.1.3.1/3.1.2.1 = 30 chiếc. Thị giác và thính giác phát triển mạnh, khả năng nhìn tốt trong ánh sáng yếu và phát hiện chuyển động rất nhanh. Tai có khả năng xoay để định hướng âm thanh. Felidae chủ yếu sống đơn độc (đa số loài mèo lớn) hoặc sống nhóm nhỏ (sư tử). Chiến lược săn mồi (rình rập, tấn công bất ngờ, cắn vào cổ hoặc họng con mồi)
Felidae xuất hiện khoảng ~25 - 30 triệu năm trước, trong thế địa chất Oligocene đến đầu Miocene. Giống cổ nhất Proailurus (một giống mèo cổ xưa nhất được biết đến trong họ Felidae. Sống khoảng 25 - 30 triệu năm trước, vào cuối thế địa chất Oligocene và đầu Miocene. “Proailurus” nghĩa là “trước mèo thật sự - proto-cat”) Sau đó tiến hóa thành Pseudaelurus (một giống mèo cổ đại quan trọng thuộc Felidae, sống khoảng 20 - 8 triệu năm trước, chủ yếu trong thế địa chất Miocene. “Pseudaelurus” nghĩa là “giống mèo giả - false cat”) vì nó trông gần giống mèo hiện đại, nhưng vẫn còn nhiều đặc điểm nguyên thủy. Đây là tổ tiên chung của tất cả họ Felidae hiện đại. Sự đa dạng hóa trong thế địa chất Miocene và Pliocene vì đồng cỏ mở rộng, con mồi phát triển (linh dương, ngựa, bò) Felidae tiến hóa mạnh thành nhiều dạng săn mồi khác nhau.