Đặc điểm chung

Họ:Lợn Suidae

Suidae Gray, 1821 - Gồm các loài thú thuộc bộ Ngón chẵn Artiodactyla, (ngón số II và IV phát triển, ngón II và ngón V bé). Đầu guốc chân bao bọc bằng một lớp móng sừng (đây là một quá trình keratin hóa, thành phần chính là protein dạng sợi rất bền và cứng), ăn tạp, không nhai lại thức ăn. Dạ dày đơn (một ngăn). Bộ răng 3.1.4.3/3.1.4.3 = 44 chiếc. Nơi sống ở các khu rừng thường xanh nguyên sinh hoặc thứ sinh, trảng cỏ, cây bụi và các khu vực đất ngập nước theo mùa. Thức ăn chính là các loài thực vật, động vật không xương sống, côn trùng đất. Mỗi năm đẻ 1 lứa, nơi đẻ thường là trong hang hốc tự đào. Mỗi lứa đẻ từ 2 - 10 con. Con non mới đẻ khoẻ mạnh.
Lịch sử tiến hóa của họ Suidae khá dài, bắt đầu từ đầu từ thế Miocen (là một thế địa chất thuộc Neogene của Đại Cenozoic. Miocene kéo dài từ khoảng 23,03 triệu năm trước đến 5,33 triệu năm trước. Đây là giai đoạn mà nhiều nhóm động vật và thực vật hiện đại bắt đầu xuất hiện và đa dạng hóa mạnh mẽ), gắn liền với sự thay đổi khí hậu và thảm thực vật trên trái đất. Nguồn gốc ban đầu tổ tiên của Suidae xuất hiện khoảng 20 - 23 triệu năm trước vào đầu thế địa chất Miocen (thời kỳ bùng nổ đa dạng của thú có vú hiện đại). Chúng tiến hóa từ các bộ Artiodactyla (artios = chẵn daktylos = ngón chân) cổ, có kích thước nhỏ thuộc họ Palaeochoeridae (một họ động vật guốc chẵn đã tuyệt chủng). Tổ tiên của chúng có cơ thể nhỏ hơn các loài hiện đại. Mõm dài, răng thích nghi ăn tạp, sống trong rừng rậm nhiệt đới ở châu Á, châu Âu. Hóa thạch cổ của Suidae nguyên thủy thường thuộc các giống Hyotherium và Palaeochoerus. Các nhà phân loại học ghi nhận trên thế giới có khoảng 17 - 18 loài thuộc 5 giống còn sống thuộc họ Suidae và phân bố chủ yếu ở châu Phi, châu Á. Việt Nam chỉ có 1 loài thuộc giống Sus được ghi nhận.