Bậc phân loại
Đặc điểm chung
Họ:Linh trưởng Primates
Primates Linnaeus, 1758 - Bộ động vật có vú thuộc lớp Thú Mammalia, nổi bật bởi não phát triển, thị giác tốt, bàn tay, chân có khả năng cầm nắm và đời sống xã hội phức tạp. Loài người Homo sapiens cũng thuộc bộ này.
Primates có xu hướng dựa nhiều vào thị giác thay vì khứu giác. Đặc biệt có mắt hướng về phía trước. Hai trường nhìn chồng lấn, có thị giác lập thể, giúp ước lượng khoảng cách tốt. Nhiều loài, mắt có khả năng phát hiện nhiều phổ màu sắc khác nhau. Đây là đặc điểm đặc biệt hữu ích đối với các loài sống trên cây, giúp chúng xác định khoảng cách giữa các cành để di chuyển. Bàn tay và khả năng cầm nắm bằng ngón cái đối diện. Ở phần lớn các loài, đầu ngón có móng thay vì vuốt. Nhờ vậy, chúng có khả năng bám, cầm, thao tác và sử dụng công cụ rất tốt. Tuy nhiên, không phải tất cả Primates đều có mức độ đối diện ngón cái giống nhau. Primates có xu hướng có não tương đối lớn so với kích thước cơ thể. Nhiều loài có khả năng học hỏi, ghi nhớ, giải quyết vấn đề, sử dụng công cụ, học các hành vi xã hội và giao tiếp, cảm nhận bằng nhiều tín hiệu âm thanh và ngôn ngữ hình thể. Công thức răng thay đổi giữa các nhóm nhưng thường có răng cửa → răng nanh → răng tiền hàm → răng hàm. Răng nanh đặc biệt phát triển ở nhiều loài khỉ và vượn vì chế độ ăn rất đa dạng nên cấu trúc răng cũng thay đổi đáng kể giữa các loài.
Primates có chế độ ăn rất đa dạng từ thực vật quả, là, hạt, hoa, nhựa cây, côn trùng, trứng chim, động vật nhỏ. Một số loài hoàn toàn ăn thực vật, trong khi một số loài ăn tạp. Con người Homo sapiens có chế độ ăn đặc biệt linh hoạt và đã thay đổi mạnh nhờ văn hóa, công cụ và nông nghiệp. Môi trường sống chủ yếu ở các khu rừng mưa nhiệt đới, rừng thường xanh núi cao, rừng khô hạn hay các thảo nguyên xen rừng. Đời sống chủ yếu trên cây, trên mặt đất Một số loài, dành phần đáng kể thời gian trên mặt đất. Primates là động vật thụ tinh trong, đẻ con, nuôi con bằng sữa. Tốc độ sinh sản tương đối chậm so với nhiều nhóm thú nhỏ khác. Mỗi lần sinh một con, thời gian chăm sóc con non kéo dài. Con non phụ thuộc vào mẹ trong thời gian dài. Primates có đời sống xã hội rất phát triển, có thể hình thành cặp đôi, nhóm gia đình, bầy đàn nhiều con trong một xã hội với thứ bậc phức tạp. và sử dụng âm thanh, biểu cảm khuôn mặt, tư thế cơ thể, các hình thức và chạm vào nhau hay hành vi âu yếm, chăm sóc lông. để giao tiếp. Grooming (chải lông cho nhau) đặc biệt quan trọng trong việc duy trì quan hệ xã hội ở nhiều loài.
Primates có nguồn gốc từ Paleocene - Eocene, khoảng 60 - 55 triệu năm trước. Các linh trưởng cổ xuất hiện rất sớm sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Creta. Trong Eocene, bộ Linh trưởng đa dạng hóa mạnh từ Primates cổ → Strepsirrhini + Haplorhini → Simiiformes → Catarrhini → Hominoidea → Hominidae → Homo. Dòng tiến hóa dẫn tới Loài người Homo sapiens chỉ là một nhánh nhỏ trong cây tiến hóa của Primates. Một điểm rất quan trọng của loài người không tiến hóa từ những con khỉ hiện đại đang sống. Loài người và các loài khỉ lớn hiện đại có chung tổ tiên cổ (người và tinh tinh) có chung một tổ tiên sống cách đây khoảng 6 - 8 triệu năm.
Cu li nhỡ
Tên tiếng Anh:Northern pygmy slow loris
Tên Latin:Xanthonycticebus intermedius
Bậc phân loại:
Vọoc bạc đông dương
Tên tiếng Anh:Indochinese silvered langur
Tên Latin:Trachypithecus germaini
Bậc phân loại: