Đặc điểm chung
Họ:Kì đà Varanidae
Varanidae Merrem, 1820 - Gồm những loài có cỡ lớn trong bộ có vảy Squamata. Những loài trong họ này có thân phủ một lớp vảy sừng, răng mọc trên xương hàm. Khe khuyết ngang con đực có cơ quan giao cấu chẻ đôi. Đẻ trứng có vỏ cứng và màng dai, không có lòng trắng. Sống trên cạn, kiếm ăn ở trên cạn và cả ở dưới nước. Thức ăn chính là các loài thú nhỏ và xác chết của các loài động vật. Làm tổ trong các hang đất hốc cây, kẽ đá gần nước, mỗi lứa đẻ 15 - 20 trứng. Ở Việt Nam có 1 giống Varanus, 2 loài.
Lịch sử tiến hóa của chúng kéo dài hàng chục triệu năm và có liên quan chặt chẽ với các thằn lằn cổ đại thuộc nhóm Varanoidea. Tổ tiên của họ Varanidae xuất hiện từ khoảng kỷ Creta muộn (~100 - 66 triệu năm trước). Chúng tiến hóa từ các thằn lằn thuộc nhóm Varanoidea, cùng nhóm với Helodermatidae, Lanthanotidae. Các nghiên cứu hóa thạch và DNA cho thấy Lanthanotidae là họ hàng gần nhất của Varanidae. Một số chi hóa thạch cho thấy các giai đoạn tiến hóa sớm của kỳ đà Saniwa (sống vào kỷ Eocene ~56–34 triệu năm trước) ở Bắc Mỹ. Đây là loài kỳ đà cổ điển nhất. Telmasaurus cũng là một dạng varanoid cổ có thể liên quan đến tổ tiên của kỳ đà. Những hóa thạch này cho thấy kỳ đà từng phân bố rộng hơn hiện nay, kể cả ở Bắc Mỹ và châu Âu.
Những đặc điểm tiến hóa quan trọng trong quá trình tiến hóa của họ Varanidae. Những đặc điểm này giúp chúng trở thành động vật săn mồi hiệu quả như não phát triển lớn → khả năng sống độc lập và săn mồi cao. Phần lưỡi chẻ đôi và cơ quan Jacobson (cặp túi cảm giác nhỏ nằm ở vòm miệng, thông với khoang miệng hoặc khoang mũi, nhằm giúp động vật phát hiện các phân tử hóa học “pheromone, mùi” trong môi trường) phát triển → giúp phát hiện mùi giống như rắn. Hệ tim mạch phát triển → vận động bền hơn nhiều thằn lằn khác. Có nọc độc nhẹ (một số loài như Varanus komodoensis, Heloderma suspectum có tuyến độc hỗ trợ việc giết chết con mồi).