Đặc điểm chung

Họ:Không đuôi Anura

Anura Duméril, 1806  - Bộ động vật lưỡng cư bao gồm ếch, nhái và cóc, là bộ lưỡng cư đa dạng nhất hiện nay. Tên gọi Anura có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp (an - không) và (oura - đuôi), nghĩa là "không có đuôi", phản ánh đặc điểm nổi bật của các cá thể trưởng thành. Sau khi hoàn thành vòng đời biến thái. Anura chiếm khoảng 88 - 90% tổng số loài lưỡng cư còn sống, phân bố trên hầu hết các lục địa, ngoại trừ Nam cực. Theo các cơ sở dữ liệu phân loại hiện đại, Anura hiện có khoảng 60 họ và 470 chi, hơn 8.000 loài. Hang năm vẫn có hàng chục loài mới được phát hiện và mô tả, đặc biệt ở vùng nhiệt đới.
Các loài thuộc bộ Anura có những đặc điểm đặc trưng không có đuôi khi trưởng thành. Cơ thể ngắn, chắc. Đầu lớn, cổ hầu như không rõ. Hai chân sau dài và khỏe, thích nghi với việc nhảy. Hai chân trước ngắn hơn. Da trần, không có vảy và luôn được giữ ẩm nhờ các tuyến nhầy. Mắt lớn, có mí mắt và màng chớp. Màng nhĩ thường lộ rõ phía sau mắt. Đa số có lưỡi dính phía trước, có thể phóng nhanh để bắt mồi. Anura có sự đa dạng rất lớn về kích thước. Loài nhỏ nhất được phát hiện ở Papua New Guinea - Paedophryne amauensis dài khoảng 7,7 mm, một trong những động vật có xương sống nhỏ nhất thế giới. Loài lớn nhất  Conraua goliath dài tới 32 cm (không tính chân), cân nặng trên 3 kg.
Anura thích nghi với nhiều kiểu sinh cảnh từ rừng mưa nhiệt đới, rừng ôn đới, đồng cỏ, đầm lầy, ao hồ, song suối đến hang động, núi cao và cả ở trên cây. Một số loài sống gần như hoàn toàn dưới nước, trong khi nhiều loài khác sống chủ yếu trên cây hoặc dưới lòng đất. Anura là động vật ăn thịt, thức ăn gồm côn trùng, nhện, giun, ốc, giáp xác, cá nhỏ, thằn lằn, chuột nhỏ, Những loài lớn còn ăn cả các loài ếch khác. Ấu trùng nòng nọc  ăn thực vật (tảo), vi khuẩn, mùn bã hữu cơ. Có rất ít loài nòng nọc ăn thịt hoặc ăn trứng. Hầu hết  Anura trải qua biến thái hoàn toàn (TrứngNòng nọc →  Nòng nọc mọc chân, tiêu biến đuôi →  Ếch trưởng thành). Tuy nhiên, một số loài có phát triển trực tiếp, con non nở ra đã giống ếch trưởng thành thu nhỏ và không có giai đoạn nòng nọc sống tự do.
Các bằng chứng hóa thạch và phân tử cho thấy, tổ tiên của Anura xuất hiện từ cuối kỷ Trias, khoảng 250 - 240 triệu năm trước. Một trong những hóa thạch cổ nhất là Triadobatrachus massinoti phát hiện ở Madagascar, có niên đại khoảng 250 triệu năm. Các loài ếch hiện đại (crown-group Anura) bắt đầu đa dạng hóa mạnh trong kỷ Jura và Creta. Sự tiến hóa của chân sau khỏe, khung chậu đặc biệt và cột sống ngắn giúp Anura trở thành nhóm lưỡng cư thích nghi nhất với lối sống nhảy.