Đặc điểm chung

Họ:Hoàng dương Garryaceae

Garryaceae John Lindley, 1834 - Một họ nhỏ trong ngành thực vật Hạt kín Angiosperms, thuộc bộ Đỗ trọng Garryales, nhánh lamiids, lớp thực vật Hai lá mầm thật sự Eudicots. Theo POWO hiện nay, họ được công nhận gồm 2 chi Aucuba và Garrya. Trong bộ Đỗ trọng Garryales, họ Garryaceae  có họ hàng với họ Eucommiaceae. Các nghiên cứu phát sinh chủng loại bằng dữ liệu plastome (hệ gen lục lạp) phục hồi chi Eucommia là nhánh họ hang gần của họ Garryaceae với độ hỗ trợ mạnh.
Garryaceae chủ yếu gồm các loài cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ thường xanh. Lá đơn, mọc đối, thường theo kiểu đối chéo, phiến lá tương đối dày và dai, lá không có lá kèm. Cụm hoa thường ở đầu cành, hoa nhỏ, hoa đơn tính, cây thường đơn tính khác gốc (dioecious), thụ phấn chủ yếu nhờ gió, quả thường là quả mọng. Đây là những đặc điểm quan trọng giúp phân biệt Garryaceae với nhiều họ khác trong các loài cây bụi thường xanh. Hoa Garryaceae khá nhỏ và không có cánh hoa lớn, sặc sỡ. Hoa đực thường tập hợp thành các cụm hoa dạng bông/rủ (catkin). Ở chi Garrya, hoa đực có các bộ phận bao hoa rất giảm và thường có 4 nhị xen kẽ với các mảnh bao hoa. Hoa cái cũng nhỏ và thường nằm trong cụm hoa riêng trên cây cái. Bầu hạ hoặc gần hạ, gồm 2-3 lá noãn hợp nhất, vòi nhụy chia thành các nhánh tương ứng.
Quả của Garryaceae là quả mọng (berry), thường tồn tại khá lâu trên cây. Đây là đặc điểm đáng chú ý vì khác với họ Đỗ trọng Eucommiaceae có quả cánh (samara). Có thể so sánh = Garryaceae → quả mọng, Eucommiaceae → quả cánh. Sự khác biệt này cho thấy sự đa dạng hình thái đáng kể trong bộ Đỗ trọng Garryales.
Garryaceae chỉ có 2 chi Garrya và Aucuba trên thế giới. Chi Garrya không có vùng phân bố bản địa ở Việt Nam và chi Aucuba có 1 loài phân bố ở Việt Nam là Ô rô bà Aucuba japonica.
Chi Garrya là chi điển hình của họ và phân bố chủ yếu ở Bắc Mỹ và Trung Mỹ, với khoảng hơn chục loài (theo các tổng hợp thực vật học). Thường là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, thường xanh. Tên tiếng Anh phổ biến của chi Garrya là silk tassel hoặc silk-tassel bush, liên quan đến các cụm hoa dài, rủ xuống.
Chi Aucuba gồm các cây bụi thường xanh phân bố tự nhiên từ Himalaya phía đông qua Đông Á. POWO hiện chấp nhận 10 loài trong chi. Đặc biệt, phạm vi bản địa của chi bao gồm Việt Nam. Một loài duy nhất ở Việt Nam là Ô rô bà Aucuba japonica.
Các nghiên cứu phát sinh chủng loại phân tử có hiệu chuẩn hóa thạch ước tính tuổi crown (crown age / crown-group age, là thời điểm ước tính của tổ tiên chung gần nhất của tất cả các dòng còn sống trong một nhánh tiến hóa) của Garryaceae khoảng 17,3 triệu năm, với khoảng tin cậy khá rộng, sự đa dạng hóa của các loài thuộc chi Aucuba hiện sinh được ước tính bắt đầu khoảng 8,1 Ma. Vào cuối thế địa chất Miocene, thuộc kỷ Neogene. Một số nhánh lớn tiếp tục phân hóa trong thế địa chất Pliocene và Pleistocene thuộc kỷ Neogen - Quaternary. Điều này cho thấy sự đa dạng hiện đại của chi Aucuba phần lớn là một quá trình tương đối gần đây trong kỷ Neogene, thay vì tất cả các loài hiện nay đều là những dòng cực kỳ cổ đại.