Đặc điểm chung

Họ:Hoàng đàn Cupressaceae

Cupressaceae Rich. ex Bartl., 1830 - Gồm 30 chi với 133 loài cây bụi và cây gỗ lớn, gỗ nhỡ thường xanh, phân bố trên khắp thế giới, phân cành nhiều. Lá mọc đối hay mọc vòng và thường mọc từng cặp hoặc thành ba và có khi tiêu giảm nhiều thành vảy hẹp ép sát cành. Lá non và lá chuyển tiếp giống dùi thường có trên cây trưởng thành. Cấu trúc sinh sản đực mọc ở đầu cành ngắn; cấu trúc cái (nón) ở đầu, có vảy mọc đối hoặc mọc vòng, bao gồm cả lá bắc hợp nhất (lá biến dạng) và vảy. Nón, thường hóa gỗ, có noãn thẳng đứng. Thân có nhiều sẹo do cành rụng và thường phân bố ở các khu vực có độ cao trung bình khoảng 800 m trở lên.

Trước đây, họ Hoàng đàn Cupressaceae được chia thành 9 chi (genus), khoảng 16 loài và được hầu hết các nhà thực vật học coi là một họ riêng, họ Bụt mọc Taxodiaceae. Tuy nhiên, các nghiên cứu phân tử đã chỉ ra rằng họ Hoàng đàn Cupressaceae là một họ thực vật tự nhiên khác biệt.

Việt Nam: có 5 chi, 8 loài, gồm các loài sau đây: Calocedrus macrolepsis, Cupressus duclouxiana, Cupressus funebris, Cupressus torulosa, Fokienia hodginsii, Platycladus oreintalis, Sabina aquamata, Sabina chinensis, Thuja orientalis