Bậc phân loại
- Bộ:Bầu bí Cucurbitales
- Bộ:Bồ hòn Sapindales
- Họ:Bồ hòn Sapindaceae
- Họ:Cam Rutaceae
- Họ:Đào lộn hột Anacardiaceae
- Họ:Thanh thất Simaroubaceae
- Họ:Trám Burseraceae
- Họ:Xoan Meliaceae
- Bộ:Bông Malvales
- Họ:Bông Malvaceae
- Họ:Dầu Dipterocarpaceae
- Họ:Gạo Bombacaceae
- Họ:Trầm Thymelaeaceae
- Họ:Trôm Sterculiaceae
- Bộ:Cà Solanales
- Bộ:Cải Brassicales
- Bộ:Cẩm chướng Caryophyllales
- Bộ:Chẹo thui Proteales
- Bộ:Cúc Asterales
- Bộ:Đàn hương Santalales
- Bộ:Đậu Fabales
- Họ:Đậu Fabaceae
- Bộ:Dây gối Celastrales
- Bộ:Dẻ Fagales
- Bộ:Đỗ quyên Ericales
- Họ:Anh thảo Primulaceae
- Họ:Bồ đề Styracaceae
- Họ:Bóng nước Balsaminaceae
- Họ:Đỗ quyên Ericaceae
- Họ:Hồng xiêm Sapotaceae
- Họ:Lộc vừng Lecythidaceae
- Họ:Mã kỳ Epacridaceae
- Họ:Ngũ liệt Pentaphylacaceae
- Họ:Trà Theaceae
- Bộ:Đỗ trọng Garryales
- Bộ:Gai ma vương Zygophyllales
- Bộ:Giẻ Fagales
- Bộ:Hồ tiêu Piperales
- Bộ:Hoa hồng Rosales
- Bộ:Hoa môi Lamiales
- Họ:Đinh Bignoniaceae
- Họ:Hoa môi Lamiaceae
- Họ:Hoa mõm sói Scrophulariaceae
- Họ:Lệ dương Orobanchaceae
- Họ:Ô rô Acanthaceae
- Họ:Rau tai voi Gesneriaceae
- Bộ:Hoa sói Chloranthales
- Bộ:Hoa tán Apiales
- Bộ:Hồi Illiciales
- Bộ:Long đởm Gentianales
- Bộ:Long não Laurales
- Bộ:Mao lương Ranunculales
- Bộ:Mỏ hạc Geranniales
- Bộ:Ngọc lan Magnoliales
- Bộ:Sim Myrtales
- Bộ:Sơ ri Malpighiales
- Bộ:Tai hổ Saxifragales
- Bộ:Vòi voi Boraginales
Đặc điểm chung
Bộ:Hai lá mầm Magnoliopsida
Magnoliopsida Brongniart, (1843) - Gồm những loài thực vật có hoa, có hạt thông thường, chứa hai lá trong phôi hay hai lá mầm và được các nhà thực vật học xếp vào lớp (class) thực vật hai lá mầm (dicots). Hiên này trên trái đất có khoảng 200.000 loài trong lớp này được phát hiện và công bố. Tuy nhiên hàng năm tiếp tục có hàng chục loài mới được khám phá, công bố. Thực vật có hoa mà trong hạt không có hai lá mầm thì thuộc lớp thực vật một lá mầm (monocots) Liliopsida.
Các nghiên cứu hiện này đã chấp nhận rằng thực vật một lá mầm Liliopsida đã tiến hóa từ thực vật hai lá mầm Magnoliopsida, cũng như thực vật hai lá mầm tạo thành một lớp cận ngành. Điều này có nghĩa là thực vật hai lá mầm sẽ không còn được coi là một lớp "riêng biệt" và tên gọi (thực vật hai lá mầm dicotyledons hay dicots) sẽ không còn được sử dụng nữa, ít nhất là trong ngữ cảnh phân loại học.
Tuy nhiên, phần chủ yếu của thực vật hai lá mầm cũ sẽ tạo thành nhóm đơn ngành được gọi là thực vật hai lá mầm thật sự (eudicots) hay thực vật mà phấn hoa có ba ba rãnh (tricolpates). Chúng có thể phân biệt với tất cả các loài thực vật có hoa còn lại nhờ cấu trúc phấn hoa. Các loài thực vật một lá mầm và các loài còn lại của thực vật hai lá mầm có phấn hoa đơn rãnh, hoặc tạo thành các dạng tự tiến hóa, trong khi thực vật hai lá mầm thực thụ có phấn hoa dạng các rãnh dài trên bề mặt hạt phấn hay các dạng tự tiến hóa (phấn hoa có 3 hoặc nhiều hơn các rãnh dài trên bề mặt hạt phấn gọi là colpi).
Thông thường, thực vật hai lá mầm từng còn có tên gọi khoa học khác là Dicotyledones hay Dicotyledoneae, ở cấp độ bất kỳ. Nếu coi như là một lớp, như trong hệ thống Cronquist, chúng ta có thể gọi là thực vật hai là mầm là Magnoliopsida (dựa theo chi điển hình là chi Ngọc lan Magnolia).
Trong một số sơ đồ phân loại học, các nhà nghiên cứu còn gọi thực vật hai lá mầm là một lớp riêng, (lớp Hoa hồng Rosopsida theo chi điển hình là chi Hoa hồng Rosa). Phần còn lại của thực vật hai lá mầm (thực vật hai lá mầm cổ - paleodicots) có thể giữ trong một lớp cận ngành duy nhất, gọi là Magnoliopsida, hoặc được phân chia tiếp.
Tên dicotyledon xuất phát từ di- = hai, cotyledon = lá mầm (phôi của nhiều thực vật thuộc nhóm này có hai lá mầm. Sau khi nảy mầm, hai lá mầm có thể cung cấp chất dinh dưỡng cho cây con).
Các đặc điểm truyền thống thường được dùng để nhận biết dicots (đây là các đặc điểm khái quát, không phải tất cả loài đều tuân theo):
| Đặc điểm | Dicots truyền thống |
| Lá mầm | 2 (dicots) |
| Gân lá | Thường dạng mạng (reticulate venation) |
| Hệ rễ | Thường có rễ cái |
| Bó mạch thân | Thường xếp thành vòng (vascular bundles). |
| Bộ phận hoa | Thường theo bội số 4 hoặc 5 |
| Hạt phấn | Nhiều dạng có 3 rãnh/lỗ hoặc các dạng phát sinh từ kiểu tricolpate (có 3 rãnh phấn) |
Magnoliopsida và Magnoliophyta hai tên này rất dễ nhầm vì Magnoliophyta thường được dùng trong các hệ thống cũ để chỉ Angiosperms thực vật hạt kín. Magnoliopsida trong nhiều hệ thống cũ thường dùng cho Dicots thực vật hai lá mầm. Vì vậy Magnoliophyta khác Magnoliopsida (một từ thường chỉ toàn bộ thực vật hạt kín, từ kia thường chỉ nhóm hai lá mầm trong hệ thống truyền thống).
Các bằng chứng hóa thạch và phân tử cho thấy thực vật hạt kín Angiosperms xuất hiện ít nhất vào Đại Trung sinh, đặc biệt trong kỷ Creta (~145 - 66 triệu năm trước). Từ tổ tiên chung của Angiosperms, nhiều nhánh lần lượt phân hóa. Các angiosperms nguyên thủy có nhiều đặc điểm khác với các thực vật hạt kín hiện đại. Một tiến hóa quan trọng của đa dạng hóa thực vật hạt kín là tính cộng sinh với động vật trong quá trình thụ phấn và phát tán hạt.