Đặc điểm chung
Họ:Gấu Ursidae
Ursidae Fischer de Waldheim, 1817 - Gồm những loài thú cỡ lớn, dáng đi nặng nề, đuôi ngắn, đầu tròn, mõm dài. Cổ ngắn và to. Chân tay to, bàn lớn, có 5 ngón, ngón có vuốt lớn và cong. Kiểu đi bằng bàn. Bộ răng 3(2).1.4(3.2).2/3.1.4(3.2).3 = 42(40.38.34) chiếc. Răng cửa tương đối lớn, răng nanh to khoẻ, răng hàm có nón răng rộng, thích nghi với chế độ ăn thực vật. Nơi sống là những khu rừng già nguyên sinh, thứ sinh. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa 1 - 3 con, không sinh sản trong môi trường nuôi nhốt.
Ursidae có nguồn gốc phân chia từ tổ tiên chung gần nhất khoảng 40 (37 - 43) triệu năm trước (MYA = million years ago = một triệu năm trước) ở châu Âu, châu Á. Sau đó, khoảng ∼23,4 (17,8 - 28,9) MYA, dòng dõi tách làm hai, với một nhánh dẫn đến chi đơn loài Ailuropoda (Gấu trúc lớn Ailuropoda melanoleuca) và nhánh thứ hai phân tách khoảng 16,5 (10,4 - 22,6) MYA. Nhánh sau này cũng tạo ra hai dòng dõi: dòng đầu tiên tách ra ∼6,8 (4,4 - 9,2) MYA thành các chi Ursus (4 loài, Gấu đen, Gấu nâu, Gấu bắc cực) và Melursus (sloth bear - gấu lười), trong khi dòng thứ hai tách ra 6,49 (5,66 - 7,05) MYA thành chi đơn loài Tremarctos (Gấu đeo kính Melursus ursinus - spectacled bear - loài này có vệt lông sáng quanh mắt giống như đeo kính). Họ Gấu Ursidae bao gồm 8 loài còn tồn tại thuộc 5 giống. Ở Việt nam có 2 loài được ghi nhận phân bố.