Đặc điểm chung
Họ:Gạo Bombacaceae
Bombacaceae Kunth 1882 - Theo hệ thống phân loại hiện đại APG IV, Bombacaceae không còn được công nhận là một họ độc lập. Các chi trước đây thuộc Bombacaceae hiện chủ yếu được xếp vào phân họ Bombacoideae trong họ Bông Malvaceae. Trong các hệ thống phân loại truyền thống (Cronquist và Takhtajan), Bombacaceae được công nhận là một họ riêng thuộc bộ Bông Malvales. Họ này từng bao gồm khoảng: 25 - 30 chi 200 - 250 loài. Các nghiên cứu ADN cho thấy Bombacaceae, cùng với các họ Trôm Sterculiaceae và Đay Tiliaceae và có quan hệ họ hàng rất gần với Bông Malvaceae. Vì vậy, các nhóm này đã được hợp nhất thành Malvaceae để phản ánh đúng quan hệ tiến hóa. Thế giới có 28 chi, 200 loài, phân bố ở nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ. Việt Nam có 6 chi, 10 loài
Bombacaceae hầu hết gồm những cây gỗ lớn, đôi khi là cây mọng nước thân gỗ (Baobab - Adansonia grandidieri) Chiều cao từ 10 đến 70 m Một số loài có thể cao trên 80 m. Thân thường phình to ở gốc nhiều loài có gai hình nón trên thân khi còn non, nhiều loài có bạnh vè lớn. Lá kép hình chân vịt thường có 5 - 9 lá chét, rụng lá vào mùa khô ở nhiều loài. Hoa rất lớn màu đỏ, trắng, vàng hoặc hồng có 5 cánh nhiều nhị hợp thành bó, bao phấn 1 ô mở dọc, hạt phấn trơn, đều, lưỡng tính, mẫu 5. Cánh đài có mầu sắc rực rỡ. Hoa thường được thụ phấn bởi dơi, chim, ong lớn, bướm đêm. Quả nang, khi chin nứt ra giải phóng hạt được bao quanh bởi các sợi bông nhẹ (kapok), giúp phát tán nhờ gió.
Các nghiên cứu phát sinh chủng loài cho thấy Bombacoideae xuất hiện khoảng 90 - 100 triệu năm trước, vào cuối kỷ Cretaceous. Đa dạng hóa mạnh trong Paleogene Paleogene (kỷ đầu tiên của đại Tân sinh “Cenozoic”, kéo dài từ 66,0 triệu năm trước đến 23,03 triệu năm trước. Kỷ này bắt đầu ngay sau Cretaceous - Paleogene extinction event, sự kiện đã làm tuyệt chủng khoảng 75% số loài trên trái đất, bao gồm toàn bộ khủng long không phải chim. Tên gọi Paleogene có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “palaios - παλαιός = cổ xưa” và “genesis - γένεσις = sự hình thành, nguồn gốc”. Nghĩa của Paleogene là "giai đoạn hình thành cổ xưa", phản ánh thời kỳ nhiều nhóm sinh vật hiện đại bắt đầu xuất hiện và phát triển) và Neogene (kỷ thứ hai của đại Tân sinh “Cenozoic”, kéo dài từ 23,03 triệu năm trước đến 2,58 triệu năm trước. Đây là giai đoạn tiếp nối sau Paleogene và trước Quaternary. Tên gọi Neogene bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “neos - νέος = mới” và “genesis - γένεσις” = sự hình thành, nguồn gốc. Nghĩa của Neogene là "giai đoạn hình thành mới", phản ánh thời kỳ các hệ sinh thái và nhiều nhóm sinh vật hiện đại được định hình). Sự thích nghi với các môi trường từ rừng mưa đến savan khô đã thúc đẩy sự tiến hóa của nhiều dạng thân và chiến lược dự trữ nước.