Đặc điểm chung
Họ:Ếch nhái Ranidae
Ranidae Rafinesque, 1814 - Đây là một trong những họ ếch lớn và phổ biến nhất thế giới, nổi tiếng với chân dài khỏe khả năng nhảy xa tốt, đời sống gắn với hai giai đoạn dưới nước và trên cạn, Họ này phân bố rộng khắp trên thế giới, ngoại trừ châu Úc. Hiện nay trên thế giới có khoảng hơn 400 loài và rất nhiều loài mới được phát hiện và công bố ở châu Á, châu Mỹ.
Đặc điểm nổi bật của Ranidae là có chân thon, chân sau dài giúp nhảy xa bơi khỏe trong nước. Da ẩm, trơn, mịn, ít sần sùi, khác với họ Cóc Bufonidae. Bàn chân có màng bơi bởi hầu hết các loài trong họ này sống gần nước ngọt, ao hồ, sông, suối và các khu vực có nước. Ranidae hoạt động, kiếm ăn mạnh vào ban đêm. Một số loài sống rừng, nơi các con suối chảy hay đầm lầy. Sinh sản ở Ranidae là một qua trình biến thái metamorphosis (meta = thay đổi, morphe = hình dạng). Đẻ trứng dưới nước → nòng nọc → biến thái → ếch trưởng thành. Nòng nọc di chuyển bằng đuôi ăn thực vật (tảo hoặc mùn hữu cơ), sống bầy đàn, thở bằng mang. Khi biến thái, nòng nọc sẽ mọc chân, phần đuôi tiêu biến (là quá trình chết rụng tế bào. Đứt đuôi của nòng nọc là do hoạt động của các enzim phân giải trong lizoxom của tế bào, kích thích hoạt động của các lizoxom làm cho các tế bào chết rụng), phát triển phổi. Biến thái ở Ranidae là trải qua quá trình chuyển đổi từ động vật thủy sinh → sống bán cạn. Ranidae hô hấp bằng mang ở giai đoạn nòng nọc và bằng phổi, da sau khi biến thái hoàn toàn. Da đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt khi ở dưới nước. Trong mùa sinh sản, chúng giao tiếp bằng âm thanh, con đực phát ra âm thanh để gọi bạn tình bằng túi kêu. Túi kêu giúp chúng khuếch đại âm thanh vang và xa. Mỗi loài khác có tần số sóng âm và tiếng kêu khác nhau, rất đặc trưng để dẫn dụ con cái.
Ranidae thuộc nhánh Ranoidea, xuất hiện từ kỷ Triassic khoảng hơn 260 triệu năm trước. Các dạng ếch cổ đầu tiên còn khá nguyên thủy, cơ thể chưa tối ưu để nhảy và bắt đầu đa dạng hóa, hình thành nhóm “ếch hiện đại” trong kỷ Jurassic và kỷ Cretaceous. Ranidae là họ quan trọng trong chỉ thị môi trường, sinh học phát triển và nghiên cứu biến thái, sinh thái học nước ngọt cũng như độc học môi trường.