Đặc điểm chung
Họ:Dơi muỗi Vespertilionidae
Vespertilionidae Gray, 1821 - Là họ dơi lớn nhất thế giới, với hơn 500 loài thuộc khoảng 50 giống. Đây là nhóm dơi nhỏ đến trung bình, phân bố gần như toàn cầu và đóng vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát côn trùng. Tên Vespertilionidae bắt nguồn từ tiếng Latinh vesper (buổi chiều tối), vì đa số các loài hoạt động vào lúc hoàng hôn và ban đêm.
Vespertilionidae có kích thước nhỏ, hầu hết các loài có chiều dài than 3 - 15 cm, sải cánh 15 - 45 cm, trọng lượng từ vài gram đến vài chục gram. Loài nhỏ nhất chỉ nặng khoảng 3 - 5g. Không có lá mũi phức tạp và khác với họ Dơi lá Rhinolophidae, họ Dơi muỗi Vespertilionidae không có cấu trúc lá mũi lớn. Phát siêu âm chủ yếu qua miệng. Tai lớn, có cấu trúc gọi là tragus (mấu tai nhỏ bên trong tai), giúp xác định hướng âm thanh. Cánh mỏng và linh hoạt, cánh được cấu tạo bởi màng da (patagium) căng giữa các ngón tay kéo dài, giúp chúng bay nhanh, cơ động và có thể đổi hướng đột ngột để đuổi côn trùng. Vespertilionidae sử dụng Echolocation (định vị bằng siêu âm) Quá trình phát sóng siêu âm, sóng phản xạ từ vật thể giúp tai thu lại tiếng vọng. Não sẽ phân tích khoảng cách, kích thước, hướng di chuyển, tốc độ con mồi.
Thức ăn của họ này phần lớn các loài ăn côn trùng (muỗi, bướm đêm, ruồi, bọ cánh cứng và các loài côn trùng bay khác). Một số loài ăn cá nhỏ, nhện, động vật có xương sống nhỏ. Vespertilionidae là những "kẻ săn côn trùng ban đêm" Một cá thể nhỏ có thể ăn hàng tram, đến hàng nghìn côn trùng mỗi đêm. Do đó chúng giúp kiểm soát sâu hại thực vật, giảm số lượng muỗi và hạn chế côn trùng truyền bệnh. Môi trường sống của họ này trú ngụ ở hang đá, hốc cây, khe đá, tán lá, mái nhà và các công trình nhân tạo. Nhiều loài ngủ đông ở vùng ôn đới, hoặc di cư theo mùa.
Vespertilionidae xuất hiện khoảng 40 - 50 triệu năm trước trong kỷ Eocene (một phân kỳ địa chất thuộc thời kỳ Paleogene trong đại Tân sinh "Cenozoic". Kéo dài khoảng 56,0 đến 33,9 triệu năm trước. Khi khí hậu ấm, nhiều vùng chịu hiệu ứng nhà kính, nhiệt độ toàn cầu cao hơn ngày nay. Sự bùng nổ và đa dạng hóa của động vật có vú sau kỷ Creta. Thảm thực vật chủ yếu là rừng rậm, rừng mưa nhiệt đới lan rộng ở nhiều nơi. Kết thúc Eocen gắn với suy giảm nhiệt độ và biến đổi khí hậu dẫn vào kỷ Oligocen, khi khí hậu bắt đầu mát hơn và khô hơn). Đây là một trong những nhánh dơi đa dạng và thành công nhất về mặt tiến hóa.