Bậc phân loại

Đặc điểm chung

Họ:Có vòi Proboscidea

Proboscidea Illiger, 1811 - Bộ động vật có vú có kích thước lớn thuộc nhánh Afrotheria, nổi bật với chiếc vòi dài (proboscis), ngà phát triển và cơ thể đồ sộ. Ngày nay, bộ này chỉ còn 3 loài còn sống, nhưng trong quá khứ Proboscidea từng là một trong những nhóm động vật có vú đa dạng nhất, với hơn 180 loài hóa thạch đã được mô tả. Voi là động vật có vú trên cạn lớn nhất còn sống và hiện chỉ còn 1 họ Voi Elephantidae, với 2 giống và 3 loài còn tồn tại là Voi đồng cỏ châu phi Loxodonta africana Voi rừng châu phi Loxodonta cyclotis, Voi châu á Elephas maximus.
Proboscidea có nhiều đặc điểm đặc trưng như vòi dài, là sự kết hợp giữa mũi và môi trên, chứa hàng chục nghìn bó cơ, dùng để hô hấp, ngửi, uống nước, kiếm ăn và giao tiếp. Ngà là răng cửa trên phát triển kéo dài, ở một số cá thể hoặc loài, con cái có ngà rất nhỏ hoặc không có. Tai lớn (đặc biệt ở 2 loài Voi châu phi), giúp tản nhiệt. Chân dạng cột, thích nghi để nâng đỡ khối lượng cơ thể rất lớn. Da dày từ 2 - 4 cm, nhưng vẫn nhạy cảm với côn trùng và ánh nắng. Bộ Proboscidea gồm những động vật trên cạn lớn nhất hiện nay. Loài lớn nhất còn sống Voi đồng cỏ châu phi Loxodonta africana. Chiều cao vai 3,2 - 4,0 m, chiều dài cơ thể 6 - 7,5 m, trọng lượng con đực trưởng thành 4 - 7 tấn (cá thể rất lớn có thể vượt 10 tấn) Loài nhỏ nhất còn sống Voi rừng châu phi Loxodonta cyclotis, cao khoảng 2,2 - 3 m, nặng khoảng 2 - 5 tấn. Proboscidea sống trong nhiều kiểu sinh cảnh từ đồng cỏ, savan đến rừng nhiệt đới, rừng khô, đầm lầy, rừng tre nứa. Là động vật ăn thực vật gồm cỏ, lá cây, vỏ cây, cành non, quả... Con trưởng thành có thể tiêu thụ 100 - 300 kg thực vật mỗi ngày và uống 100 - 200 lít nước. Thụ tinh trong, đẻ con, mỗi lứa thường 1 con, nuôi con bằng sữa. Thời gian mang thai khoảng 22 tháng, dài nhất trong các động vật có vú còn sống. Con non được chăm sóc nhiều năm và đàn voi có cấu trúc xã hội mẫu hệ rất phát triển.
Proboscidea là dòng tiến hóa cổ nhất của động vật có vú hiện đại. Xuất hiện ở châu Phi khoảng 60 triệu năm trước, ngay sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Creta. Những dạng cổ nhất như Eritherium và Phosphatherium có kích thước nhỏ. Trong quá trình tiến hóa, chúng phát triển vòi dài, ngà lớn, kích thước cơ thể tăng mạnh, chân dạng cột. Các nhóm nổi tiếng trong lịch sử tiến hóa gồm. Deinotherium (có ngà cong xuống từ hàm dưới). Gomphotherium (có bốn ngà), Mammut (có lông dài, rậm, ngà dài và cong như voi ngày nay). Các phân tích DNA cho thấy họ hàng gần nhất còn sống của voi là nh74ng loài thuộc bộ Thỏ đá Hyracoidea, Hải ngư Sirenia. Ba bộ này hợp thành nhánh Paenungulata trong siêu bộ Afrotheria.