Đặc điểm chung

Họ:Có vảy Squamata

Squamata Oppel, 1811 - Bộ bò sát lớn nhất hiện nay, bao gồm thằn lằn, rắn và giun thằn lằn (amphisbaenians). Với hơn 12.000 loài, Squamata chiếm khoảng 95% số loài bò sát còn sinh tồn, phân bố trên hầu hết các lục địa và nhiều đảo trên thế giới. Theo các cơ sở dữ liệu phân loại hiện đại, Squamata có khoảng 70 họ, với hơn 1.300 giống và trên 12.000 loài. Đây là bộ có số lượng loài lớn nhất trong lớp Bò sát Reptilia.
Mặc dù rất đa dạng về hình thái, các loài Squamata có một số đặc điểm chung gồm da phủ vảy sừng keratin. Lột xác định kỳ để thay lớp da cũ để phát triển kích thước. Hộp sọ có các khớp linh hoạt (kinetic skull), giúp nhiều loài nuốt con mồi lớn. Hàm dưới gồm hai nửa nối bằng dây chằng đàn hồi, đặc biệt phát triển ở rắn. Thụ tinh trong, con đực có hai cơ quan giao phối (hemipenes), một đặc điểm đặc trưng của Squamata. Kích thước Squamata có phạm vi rất khác biệt, loài nhỏ nhất Tắc kè hoa lùn Brookesia nana chỉ dài khoảng 13,5 - 22 mm. Loài lớn nhất Thằn lằn Komodo Varanus komodoensis dài tới khoảng 3 m và Trăn gấm Python reticulatus có thể dài trên 9 m.
Squamata xuất hiện ở nhiều sinh cảnh khác nhau, từ rừng mưa nhiệt đới, rừng ôn đới, sa mạc, đồng cỏ, đến núi cao, hang động, đầm lầy, song, hồ, biển (rắn biển và cự đà biển). Với chế độ ăn rất đa dạng từ côn trùng, nhện đến giun, cá, ếch nhái, chim, động vật có vú.  Và thực vật (ở một số loài như cự đà). Một số loài có chế độ ăn rất chuyên biệt (rắn ăn trứng, rắn ăn ốc, thằn lằn ăn kiến hoặc mối). Squamata có nhiều hình thức sinh sản từ đẻ trứng (oviparity) phổ biến nhất đến đẻ con trứng (viviparity) hay noãn thai sinh (ovoviviparity) trứng nở trong cơ thể mẹ trước khi con được sinh ra. Ở nhiều loài sống vùng khí hậu lạnh, đẻ con trứng đã tiến hóa độc lập nhiều lần. Squamata đóng vai trò quan trọng trong tự nhiên như kiểm soát quần thể côn trùng và động vật gặm nhấm. Là nguồn thức ăn cho chim săn mồi, thú và cá sấu. Duy trì cân bằng chuỗi thức ăn. Một số loài là sinh vật chỉ thị chất lượng môi trường.
Tiến hóa Squamata thuộc nhóm Lepidosauria, cùng với bộ Rhynchocephalia (hiện chỉ còn Thằn lằn cổ newzeland Sphenodon punctatus). Tổ tiên của Squamata xuất hiện vào kỷ Jura giữa, khoảng 170 - 165 triệu năm trước. Các phân tích phân tử cho thấy nhiều nhánh hiện đại bắt đầu phân hóa từ cuối Jura đến đầu Creta. Rắn được cho là tiến hóa từ tổ tiên dạng thằn lằn, với quá trình tiêu giảm chi và kéo dài cơ thể diễn ra trong hàng chục triệu năm. Sau sự kiện tuyệt chủng cuối kỷ Creta (66 triệu năm trước), Squamata trải qua một giai đoạn đa dạng hóa mạnh mẽ, hình thành phần lớn các họ còn tồn tại ngày nay.