Đặc điểm chung
Họ:Cổ rắn Anhingidae
Anhingidae Reichenbach, 1849 - Gồm các loài chim thuộc họ Cổ rắn cỡ trung bình. Về cấu tạo chúng rất gần với họ Cốc Phalacrocoracidae, chỉ khác là mỏ thẳng, mảnh và rất nhọn. Mép mút mỏ có răng cưa. Cổ và đuôi dài hơn cổ và đuôi của Cốc. Cánh nhọn, lông cánh thứ 3 dài nhất. 12 lông đuôi các lông ở vai dài và nhọn hình mũi mác. Các loài chim cổ rắn thường phân bố ở khắp các khu vực nước, đầm lầy trong lục địa. Họ này có 4 loài thuộc 1 giống Anhinga. Ở Việt Nam duy nhất có một loài.
Anhingidae với chiếc cổ dài, rất dài linh hoạt giúp chúng đâm, bắt cá như lao. Mỏ nhọn, dài sắc thẳng Khác với Phalacrocoracidae (vốn có đầu mỏ cong). Cơ thể thích nghi lặn chân có màng bơi thân thuôn dài xương nặng hơn nhiều chim nước khác, giúp chúng lặn sâu dễ dàng. Hò này khi bơi toàn thân chìm dưới nước chỉ cổ nổi lên, nên nhìn giống con rắn đang bơi. Anhingidae chủ yếu ăn cá, động vật thủy sinh nhỏ bằng cách lặn dưới nước tiếp cận con mồi, dùng cổ phóng nhanh như lò xo đâm bằng mỏ và tung mồi lên xoay đầu xuống trước, nuốt. Bộ lông của Anhingidae rất đặc biệt, không chống nước hoàn toàn, giúp giảm lực nổi lặn hiệu quả hơn. Nhưng do lông bị ướt nhanh, do vậy chúng thường phải dang cánh phơi nắng sau khi bơi.
Anhingidae có quan hệ gần với Cốc Phalacrocoracidae. Cả hai đều thuộc bộ Bồ nông Pelecaniformes. Tổ tiên của Anhingidae xuất hiện khoảng 30 - 40 triệu năm trước. Các hóa thạch cổ đã được tìm thấy từ Oligocene, Miocene. Anhingidae là loài chim săn cá cỡ nhỏ quan trọng giúp cân bằng quần thể cá ở vùng nước ngọt. Là chỉ thị sinh học của hệ sinh thái wetlands khỏe mạnh.