Đặc điểm chung
Họ:Chuột chù cây Tupaiidae
Tupaiidae Gray, 1825 - Gồm những loài thú gặm nhấm sống trên mặt đất, hoạt động, kiếm ăn ban ngày lẫn đêm (tên họ bắt nguồn từ tupai, tiếng Mã Lai cho chuột chù cây). Đặc điểm đặc trưng của họ này là thân thân phủ một lớp lông mao rậm, đuôi xù. Nơi sống là các khu rừng thường xanh. Thức ăn chủ yếu là côn trùng, củ, quả, hạt các loài thực vật trong vùng phân bố. Công thức răng 2.1.3.3 / 3.1.3.3 = 38 răng (hàm trên: 2 răng cửa, 1 răng nanh, 3 răng tiền hàm, 3 răng hàm, hàm dưới: 3 răng cửa, 1 răng nanh, 3 răng tiền hàm, 3 răng hàm). Bộ răng của họ này nhìn chung giống nhau, nhưng có một số khác biệt giữa các loài. Do có bộ răng không chuyên hóa cao, nên Tupaiidae mang tính trung gian giữa thú ăn côn trùng Insectivora và Linh trưởng cổ đại Primates. Mỗi năm đẻ 1 lứa mỗi lứa đẻ 3 - 5 con. Trên thế giới họ này có 3 giống và 19 loài. Việt Nam Có 2 loài thuộc 2 giống Denrogale murina và Tupaia belangeri.
Tupaiidae là một trong những nhánh cổ gần với linh trưởng trong cây tiến hóa của động vật có vú. Tổ tiên của Tupaiidae xuất hiện sau thảm họa khi khủng long tuyệt chủng, các thú có nhau thai nhỏ bắt đầu đa dạng hóa mạnh. Tổ tiên của Tupaiidae phát sinh trong thế địa chất Paleocene đầu thế địa chất Eocene thuộc nhánh Euarchontans (một nhóm “clade” tiến hóa của động vật có vú có nhau thai) nguyên thủy, cùng nhánh với Linh trưởng Primates, Cánh da Dermoptera. Ba nhóm này tạo thành siêu bộ Euarchonta và từ đó tách ra thành các bộ Cánh da Dermoptera tách ra sớm, sau đó tách thành bộ Nhiều răng Scandentia và bộ Linh trưởng Primates. Điều này làm Tupaiidae trở thành họ hàng gần của linh trưởng nhưng không phải linh trưởng.
Trong hơn 100 năm (thế kỷ 19 - 20), các nhà phân loại học xếp chuột cây vào bộ Linh trưởng Primates. Do chuột cây có nhiều đặc điểm giống khỉ cổ như (não tương đối lớn so với kích thước cơ thể, hốc mắt lớn, thị giác tốt, bàn chân linh hoạt để leo trèo, có móng “không phải vuốt sắc như thú ăn thịt” răng, xương sọ tương tự linh trưởng cổ vì cấu trúc tai giữa, hình dạng răng gần với linh trưởng nguyên thủy, tỉ lệ não/hộp sọ cao hơn động vật ăn côn trùng và được gọi là “proto-primates - linh trưởng nguyên thủy). Nguyên nhân của sự nhầm lẫn do linh trưởng cổ rất giống các thú nhỏ, sống trên cây và do thiếu dữ liệu hóa thạch rõ ràng, nghiên cứu phân loại trước đây dựa chủ yếu vào hình thái, chưa có DNA. Cuối thế kỷ 20, các nghiên cứu phân tích DNA và Protein đã làm rõ quan hệ tiến hóa cho thấy Tupaiidae không nằm trong Primates, chúng thuộc một bộ Nhiều răng Scandentia vì mặc dù não lớn hơn động vật ăn côn trùng, nhưng hành vi khá đơn giản, trong khi đó Primates não phát triển mạnh hành vi xã hội phức tạp khả năng học tập cao. Một số hóa thạch cổ liên quan đến Scandentia gồm Ptilocercus, Eodendrogale. Các dạng cổ xuất hiện nhiều trong các thế địa chất Eocene, Oligocene cho thấy Tupaiidae đã có hình dạng gần giống chuột cây hiện đại từ rất sớm.
Chuột chù cây nhen
Tên tiếng Anh:Northern smooth-tailed treeshrew
Tên Latin:Denrogale murina
Bậc phân loại: