Đặc điểm chung

Bộ:Chân đốt Arthropoda

Arthropoda Gravenhorst, 1843 - Ngành lớn nhất trong giới Động vật Animalia và là ngành động vật không xương sống duy nhất có các loài sống ở trên cạn, dưới nước, trong không khí. Một trong những ngành động vật lớn và đa dạng nhất trên trái đất. Đây là nhóm bao gồm côn trùng, nhện, giáp xác, rết, cuốn chiếu và nhiều nhóm đã tuyệt chủng.
Đặc điểm đặc trưng của Arthropoda là có bộ xương ngoài, cơ thể được bao phủ bởi exoskeleton (bộ xương ngoài), chủ yếu chứa kitin, có chức năng bảo vệ cơ thể, chống mất nước, tạo điểm bám cho cơ, hỗ trợ vận động. Tuy nhiên bộ xương ngoài không thể lớn liên tục, vì vậy Arthropoda phải lột xác → tăng trưởng → hình thành bộ xương ngoài mới. Tên Arthropoda có nghĩa arthro = khớp, poda = chân → "chân khớp". Các phần phụ có thể biến đổi thành chân đi, chân bơi, râu, kìm, hàm, càng, cơ quan sinh sản. Đây là một trong những thành công tiến hóa quan trọng nhất của ngành này. Tổ tiên của chân khớp có cơ thể phân gồm nhiều đốt (segments). Trong quá trình tiến hóa, các đốt có thể hợp nhất thành các vùng cơ thể (tagmata). Côn trùng có (phần đầu head) → (phần ngực thorax) → (phần bụng abdomen), ở Nhện (phần trước cơ thể prosoma) → (phần sau cơ thể opisthosoma) và ở Giáp xác (đầu-ngực cephalothorax) → (bụng abdomen).
Có thể chia Arthropoda hiện đại thành bốn nhánh lớn:
Chelicerata nhánh có kìm. Đặc điểm nổi bật là có (chelicerae) hai kìm ở phía trước miệng, không có râu (antennae) thật sự và lớp Hình nhện Arachnida gồm có (nhện, bọ cạp, ve hút máu...). Đặc trưng điển hình có 8 chân, cơ thể chia làm 2 phần (phần trước cơ thể prosoma) và (phần sau cơ thể opisthosoma). Nhánh này đặc trưng với sam biển (horseshoe crabs). Mặc dù có hình dạng giống cua, chúng không phải giáp xác (crustacea) mà thuộc Chelicerata (nhánh chân khớp có chelicerae “hai kìm ở phía trước miệng, không có râu antennae thật sự).
Myriapoda nhánh nhiều chân. Gồm các loài rết (chilopoda), đặc trưng cơ thể phân đốt. Mỗi đốt thường có một đôi chân. Đôi chân đầu tiên biến đổi thành chân hàm hay còn gọi chân độc (maxillipedes), dùng để bắt mồi và đưa nọc độc vào cơ thể con mồi. gồm các loài cuốn chiều (diplopoda), đặc trưng có nhiều đốt thân hợp nhất thành diplosegments (đốt kép). Phần lớn đốt có hai đôi chân. Rết và cuốn chiếu đều có nhiều chân nhưng không phải cùng một nhánh.
Crustacea nhánh giáp xác. Bao gồm các loài tôm, cua, tôm hùm, chân chèo và một số nhóm giáp xác nhỏ khác. Đặc trưng điển hình là hầu hết sống dưới nước. Có hai đôi râu ở nhiều loài và côn trùng có quan hệ tiến hóa gần với giáp xác hơn so với nhện hay rết.
Hexapoda nhánh sáu chân. Bao gồm các loài Entognatha (bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp ento- = bên trong, gnatha = hàm → “hàm ở bên trong”), Collembola (bọ đuôi bật “springtails”), Protura (bọ sáu chân nguyên thủy), Diplura (bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp di- = hai, -pura/-ura = đuôi → có thể hiểu là “ bọ hai đuôi”, dựa trên một đôi cerci ở cuối bụng) và côn trùng Insecta có đặc điểm là có 6 chân, thường có 4 cánh (nhiều loài không có cánh), cơ thể được chia làm 3 phần (phần đầu head) → (phần ngực thorax) → (phần bụng abdomen).
Vì sao Arthropoda thành công  trong tiến hóa ? Có nhiều nguyên nhân, do phần phụ chuyên hóa, Một phần phụ cơ bản có thể biến đổi thành nhiều cấu trúc khác nhau.  Như phần phụ nguyên thủy (chân, càng, hàm, râu, kìm). Có bộ xương ngoài exoskeleton giúp bảo vệ cơ thể và giảm mất nước. Khả năng bay xa ở côn trùng, sự tiến hóa của cánh cho phép chúng di chuyển nhanh, phân tán rộng để khai thác nguồn thức ăn mới và tránh kẻ săn mồi. Vòng đời trải qua một quá trình biến thái hoàn toàn Trứng (eggs) → Ấu trùng (larva) → Nhộng (chrisalis) → Trưởng thành (adult) hoặc biến thái không hoàn toàn Trứng (eggs) → Con non (nymph) → Trưởng thành (adult). Điều này giúp các giai đoạn sống sử dụng các nguồn tài nguyên khác nhau.
Arthropoda có lịch sử tiến hóa từ thời rất cổ đại, với nhiều hóa thạch quan trọng từ kỷ Cambrian (kỷ địa chất đầu tiên của Đại Cổ sinh Paleozoic, kéo dài khoảng 538,8 - 485,4 triệu năm trước (Ma ”là mốc thời gian địa chất M = mega = 1 triệu a = annum = năm”). Đây là một trong những giai đoạn quan trọng nhất trong lịch sử tiến hóa của động vật, đặc biệt nổi tiếng với “Bùng nổ Cambri” Cambrian explosion). Hóa thạch quan trọng nhất của ngành Chân khớp Arthropoda được phát hiện là Bọ ba thùy Trilobita. Những loài chân khớp biển cổ, rất đa dạng trong Đại Cổ sinh Paleozoic, nhưng đã tuyệt chủng vào cuối kỷ Permi (kỷ cuối cùng của Đại Cổ sinh (Paleozoic), kéo dài khoảng 298,9 - 251,9 triệu năm trước (Ma). Sự xuất hiện và đa dạng hóa của ngành Chân khớp Arthropoda là một phần quan trọng của bùng nổ Cambri.