Bậc phân loại
Đặc điểm chung
Họ:Cá chép Cypriniformes
Cypriniformes Goodrich, 1909 - Một trong những bộ cá nước ngọt lớn nhất thế giới. Đây là nhóm cá thống trị ở các hệ sinh thái nước ngọt của châu Á, châu Âu, Bắc Mỹ và châu Phi. Theo các hệ thống phân loại hiện đại, Cypriniformes có khoảng 13 - 15 họ (tùy cách phân loại), với hơn 500 giống và trên 4.300 loài. Họ Cá chép Cyprinidae là họ lớn nhất, đồng thời cũng là một trong những họ động vật có xương sống đa dạng nhất thế giới.
Cypriniformes có nhiều đặc điểm đặc trưng sống hoàn toàn trong nước ngọt. Không có răng trên hàm. Có răng hầu (pharyngeal teeth) phát triển để nghiền thức ăn. Thân thường thuôn dài hoặc dẹp bên. Vảy chủ yếu là vảy tròn (cycloid). Một số loài có râu quanh miệng (Cá chép Cyprinus carpio). Có weber (Weberian apparatus), gồm các xương nhỏ nối bóng hơi với tai trong, giúp tăng khả năng nghe. Kích thước rất đa dạng từ nhỏ nhất thuộc giống Danionella chỉ dài khoảng 10 - 15 mm đến lớn nhất Cá hô Catlocarpio siamensis có thể dài trên 3 m và nặng tới khoảng 300 kg, là loài cá chép lớn nhất thế giới.
Cypriniformes sống trong các thủy vực gồm song, suối, ao, hồ, đầm lầy đến ruộng ngập nước. Một số loài thích nghi với những con suối chảy xiết vùng núi hay hang động và hồ cao nguyên. Cypriniformes có chế độ ăn rất đa dạng từ tảo, thực vật thủy sinh đến động vật phù du, côn trùng, giun, giáp xác nhỏ đến các loại mùn bã hữu cơ. Nhiều loài là động vật ăn tạp. Gồm những loài thụ tinh ngoài, đẻ trứng, trứng thường bám vào thực vật thủy sinh hoặc đá. Không chăm sóc con non, mặc dù một số loài có hành vi bảo vệ tổ hoặc trứng.
Cypriniformes có vai trò quan trọng trong mắt xích chính của chuỗi thức ăn nước ngọt. Kiểm soát tảo và động vật không xương sống. Là nguồn thức ăn của chim, thú và cá lớn. Góp phần tái chế chất hữu cơ trong thủy vực.
Cypriniformes xuất hiện vào cuối kỷ Creta hoặc đầu kỷ Paleogene, khoảng 70 - 60 triệu năm trước và thuộc liên bộ Ostariophysi, cùng với các bộ như Characiformes, Siluriformes và Gymnotiformes. Các nghiên cứu hóa thạch và phân tử cho thấy Cypriniformes có nguồn gốc ở Á - Âu, sau đó lan rộng sang Bắc Mỹ và châu Phi. Sự nâng lên của các dãy núi, thay đổi mạng lưới sông ngòi và các chu kỳ băng hà đã thúc đẩy quá trình hình thành nhiều loài mới.