Đặc điểm chung
Họ:Bướm phấn Pieridae
Pieridae Swainson, 1820 - Gồm những loài bướm ngày bướm lớn trong bộ Cánh vảy Lepidoptera. Bướm trưởng thành thường có kích thước trung bình nhỏ đến trung bình (sải cánh khoảng 35 - 70 mm). Một số loài có tính lưỡng hình giới tính (con đực và con cái màu khác nhau). Màu sắc chủ đạo trắng, vàng hoặc cam, thường có đốm đen ở cánh trước và những con trưởng thành mới nở có mùi hương. Râu dài bằng một nửa chiều dài của cánh trước và mảnh, chùy nhỏ ở chót râu và thẳng. Mắt kép, các xúc tu môi lớn hơn đầu, nhô ra ngoài hoặc hơi hướng lên trên. Các chân đều có chức năng đầy đủ ở cả bướm đực và bướm cái, mỗi chân có một cặp vuốt. Cánh trước có từ 10 đến 12 gân, với các gân 7, 8 và 9 đôi khi trùng nhau. Vảy nón thường có ở mặt trên của cánh trước. Cánh sau có 2 gân gần hậu môn. Cánh trước và cánh sau khép kín.
Trứng dài, hình chai và có nhiều gân. Ấu trùng thường có màu xanh lá, nhẵn, không có gai, có lông rất ngắn, thức ăn là các loài thực vật họ Cải Brassicaceae, họ Cáp Capparaceae và họ Đậu Fabaceae. Nhộng thường có đầu nhọn, treo gần thẳng đứng bằng đai tơ và dính chặt vào giá thể bởi móc hậu môn.
Lịch sử tiến hóa của họ này gắn chặt với sự phát triển của thực vật có hoa và đặc biệt là các cây thuộc họ Cải Brassicaceae. Hóa thạch của họ này được tìm thấy ở cuối kỷ Cretaceous - đầu Paleogene. Các nghiên cứu phân tử cho thấy tổ tiên của Pieridae xuất hiện khoảng 70 - 80 triệu năm trước, vào cuối Cretaceous. Thời kỳ này thực vật có hoa bùng nổ đa dạng. Các nhóm bướm ngày bắt đầu phân hóa nhanh. Pieridae phần bố ở hầu khắp các vùng trên thế giới, có khoảng 1.200 loài được phát hiện và công bố. Rất nhiều loài có tập tính di cư theo mùa khắp các lục địa.