Đặc điểm chung
Họ:Bướm đêm cánh thẳng Erebidae
Erebidae (Leach, 1815) - Là họ bướm đêm trong siêu họ Noctuoidea. Bướm đêm cánh thẳng Erebidae một trong những họ bướm đêm lớn nhất về số lượng loài và bao gồm nhiều Giống (genus) bướm đêm lớn. Kích thước của những con trưởng thành được ghi nhận có kích thước lớn so với các loài bướm đêm (sải cánh lớn nhất > 5 in ~ 127 mm) và (sải cánh nhỏ nhất 0,25 in ~ 6 mm). Màu sắc của các cá thể bướm trưởng thành từ màu rỉ sắt, đơn sắc đến rực rỡ, tương phản và nhiều màu sắc. Họ này được ghi nhận trên khắp các lục địa trừ Nam Cực. Ở Việt Nam đã ghi nhận ở khắp các khu rừng thường xanh có đổ cao trên 800 m.
Ấu trùng thân ngoài nhẵn, các chân trước phát triển đầy đủ hoặc hơi thu nhỏ. Ở một số loài khác chân trước bị thu nhỏ hoặc không có để thích nghi với cuộc sống trên cây. Ấu trùng chủ yếu ăn thực vật, giống như hầu hết ấu trùng của Bộ cánh vảy Lepidoptera khác. Mỗi loài thích nghi với một hoặc 2 loài cây chủ khác nhau. Giống Lithosiini ăn các loài địa y gọi là "bướm đêm ăn địa y". Ở phân họ Herminiinae thay vì ăn lá sống, chúng ăn lá khô hoặc héo nên có tên là "bướm đêm ăn lá khô". Bướm đêm trưởng thành của họ Erebidae có cánh trước hình tứ giác và cánh sau thường hình tứ giác, mỗi cánh bao gồm một gân hình khối chia bốn. Chúng dùng vòi hút đâm thủng quả để hút nước nên còn có tên gọi là "bướm đêm đâm thủng quả" và các loài thuộc Giống Calyptra cũng có thể đâm thủng da động vật có vú để hút máu nên có tên là "bướm đêm ma cà rồng".
Erebidae thuộc siêu họ Noctuoidea. Tổng họ này gồm nhiều họ bướm đêm tiến hóa cao. Các nghiên cứu phát sinh chủng loại cho thấy Erebidae xuất hiện khoảng: 60 - 70 triệu năm trước (từ cuối kỷ Creta đến đầu Paleogene). Sự xuất hiện của chúng gắn với sự phát triển mạnh của thực vật có hoa. Tổ tiên của Erebidae có lẽ là các bướm đêm cổ thuộc nhóm noctuoid nguyên thủy. Bướm trưởng thành có nhiều chiến lược tiến hóa độc đáo như độc tố hóa học và chống dơi bằng siêu âm