Đặc điểm chung
Họ:Bọ ngựa Mantidae
Mantidae Burmeister, 1838 - Là họ côn trùng lớn nhất trong bộ Bọ ngựa Mantodea, gồm những loài côn trùng biến thái không hoàn toàn (Hemimetabolism - Biến thái không hoàn toàn thường có vòng đời gồm 3 giai đoạn chính Trứng "eggs" → Thiếu trùng "nymph" → Trưởng thành "adult". Thiếu trùng có hình dạng giống con trưởng thành nhưng nhỏ hơn. Chúng chưa có cánh và cơ quan sinh sản hoàn chỉnh. Thiếu trùng sẽ lột xác nhiều lần cho đến khi trở thành con trưởng thành). Phân bố ở hầu khắp các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Di chuyển chậm, đặc trưng bởi chân trước dạng bắt mồi (raptorial forelegs) với nhiều gai sắc, có mảnh đùi (phần trên) to có rãnh có gai nhọn bị mảnh chày (phần dưới) ép vào. Sử dụng chân trước khỏe, có gai nhọn làm công cụ săn mồi. Đầu hình tam giác, có thể xoay linh hoạt gần 180°. Mắt kép lớn, giúp quan sát con mồi tốt. Ngực trước (prothorax) dài, giúp chân trước vươn xa khi bắt mồi. Cánh phát triển tốt ở phần lớn loài trưởng thành.
Mantidae là côn trùng ăn thịt rất hung dữ, không chỉ ăn côn trùng mà còn ăn thịt cả các loài bò sát, chim... Dùng 2 chân trước có răng sắc nhọn, như chiếc kìm tóm lấy con mồi. Khi bị đe dọa, chúng sẽ cảnh báo kẻ thù bằng cách đưa 2 chân lên đe dọa và dùng đôi cánh xòe ra gây tiếng động bởi cánh trong thường có màu sắc cảnh báo. Họ này thường được tìm thấy sống trong thảm thực vật hơn là trên mặt đất, chúng có khả năng ngụy trang thành những chiếc lá xanh, chiếc lá khô màu nâu, một cành cây mảnh, một loài địa y, một bông hoa có màu sắc rực rỡ hoặc một con kiến. Lớp ngụy trang này giúp chúng ẩn mình khỏi những kẻ săn mồi và cũng khiến chúng không bị phát hiện khi rình rập hoặc chờ đợi con mồi. Con cái có tập tính ăn thịt con đực sau quá trình giao phối (những con ăn thịt con đực nở ra nhiều ấu trùng và khỏe mạnh), đẻ khoảng 200 trứng trong một nang lớn giống như kén (ootheca). Kén có tác dụng bảo vệ trứng khỏi điều kiện thời tiết bất lợi và kẻ thù. Ấu trùng mới nở không có cánh rất giống với con trưởng thành và tất cả đều nở cùng một lúc. Ấu trùng có tập tính ăn thịt đồng loại. Trên thế giới có khoảng 150 - 200 loài thuộc 20 - 30 giống. Xuất hiện từ khoảng kỷ Creta, khoảng 110 - 120 triệu năm trước. Các hóa thạch bọ ngựa cổ thuộc họ Chaeteessidae cho thấy hình thái ban đầu của nhóm này. Sau đó các nhánh bọ ngựa hiện đại dần hình thành trong Đại tân sinh Cenozoic, khi môi trường rừng nhiệt đới phát triển mạnh.