Đặc điểm chung

Họ:Bò biển Dugongidae

Dugongidae Gray, 1821 - Là một họ đơn hình, chỉ có 1 loài duy nhất là Bò biển Dugong dugon, sống ở vùng nước ven biển ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới của Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương (Husar, 1978). Chúng chủ yếu ăn lá và thân rễ của cỏ biển. Thân rễ là một thành phần quan trọng trong chế độ ăn của Bò biển, do hàm lượng carbohydrate của cỏ biển. Bò biển dùng mõm để đào bới thức ăn (Marshall et al., 2003). Miệng, đĩa miệng của chúng bị lệch mạnh về phía bụng, do đó mà đĩa miệng gần như song song với đáy biển, rất thích nghi với việc ăn cỏ và đào bới cỏ biển ở dưới đáy biển. Bò biển tiêu thụ một lượng lớn cát, bùn cùng với thực vật.
Chỉ có một loài còn sống trong họ Bò biển Dugongidae. Các loài cùng họ gần đây là Bò biển steller (Hydrodamalis gigas), đã bị tiêu diệt do săn bắn quá mức vào năm 1768. Bò biển là một loài sinh sống ở vùng nhiệt đới/đại diện cận nhiệt đới ở các khu vực biển Ấn Độ - Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam. Nhưng loài Bò biển steller lại là một loài sống ở vùng nước lạnh ôn đới đến cận cực. Các loài thuộc họ này, có đuôi phẳng được mở rộng thành các vây, tương tự như ở các loài cá voi. Những đặc điểm khác bao gồm một cái mỏ bị cong xuống, với những chiếc răng nanh mọc ra ở con đực (chỉ có ở Bò biển Dugong dugon, loài Bò biển steller không có răng chức năng này). Một cơ thể thuôn dài như cá heo, chân trước dạng mái chèo và không có móng trên các vây.
Tổ tiên của Dugongidae thuộc nhóm động vật có vú nguyên thủy ở châu Phi. Các nghiên cứu hóa thạch và DNA cho thấy họ này có họ hàng gần với Elephantidae và chia ra nhiều giai đoạn. Giai đoạn đầu tiên (khoảng 50 - 55 triệu năm trước), xuất hiện vào đầu thế địa chất Eocene. Các hóa thạch cổ nhất như Prorastomus sirenoides, Pezosiren Portelli, là nhưỡng loài đi lại được trên cạn, sống gần đầm lầy và cửa sông. Chúng đại diện cho giai đoạn chuyển tiếp từ động vật trên cạn sang động vật biển. Giai đoạn kế tiếp chuyển sang đời sống thủy sinh hoàn toàn khoảng 45 - 40 triệu năm trước. Chân sau dần tiêu giảm, đuôi phát triển thành mái chèo. Xương trở nên nặng hơn (pachyosteosclerosis), xương nặng giúp giảm sức nổi, dễ kiếm ăn dưới đáy biển. Đây là một thích nghi rất quan trọng đối với động vật ăn cỏ dưới nước. Giai đoạn tuyệt chủng của nhiều nhánh từ cuối thế địa chất Miocen đến Pliocen. Khi khí hậu toàn cầu lạnh hơn, mực nước biển biến động, nhiều thảm cỏ biển suy giảm, khiến cho phần lớn các nhánh Dugongidae biến mất. Chỉ còn một số dòng sống sót ở vùng nhiệt đới Ấn Độ Dương - Tây Thái Bình Dương.