Đặc điểm chung
Họ:Bắt ruồi Droseraceae
Droseraceae Salisb., 1808 - Một họ thực vật hạt kín ăn thịt (carnivorous plants) thuộc bộ Cải Caryophyllales. Họ nổi tiếng với các loài Drosera (gọng vó/sundew) có lá mang những lông tuyến (glandular trichomes) tiết chất nhầy để bắt và tiêu hóa côn trùng.
Phần lớn là cây thân thảo nhỏ, sống lâu năm hoặc một năm tùy loài. Drosera thường có thân rất ngắn, lá tập trung thành hoa thị; một số loài có thân đứng hoặc thân dài. Lá là đặc điểm nổi bật nhất của Drosera, phiến lá mang rất nhiều lông tuyến (tentacles). Đầu các lông tuyến tiết dịch nhầy dính, thường tạo thành những giọt sáng như sương. Khi côn trùng tiếp xúc = Côn trùng → dính vào chất nhầy → lông tuyến cong về phía con mồi → tiết enzyme tiêu hóa → hấp thu chất dinh dưỡng.
Đây là một dạng bắt mồi chủ động kết hợp tiêu hóa ngoại bào. Nhưng cơ chế bắt mồi khác nhau giữa các chi
Drosera → bẫy dính (flypaper trap), trên cạn
Dionaea → bẫy kẹp (snap trap), trên cạn
Aldrovanda → bẫy kẹp nhanh (underwater snap trap), dưới nước. Đây là một điển hình thú vị về sự tiến hóa hội tụ của cơ chế bắt mồi trong cùng một họ.
Hoa của Droseraceae nhìn chung lưỡng tính và đều (actinomorphic). Với 5 lá đài, 5 cánh hoa, 5 nhị hoặc số nhị biến đổi tùy chi, bầu thượng, lá noãn thường hợp thành 3 - 5 lá noãn, bầu thường 1 ô, mang nhiều noãn, quả thường là quả nang (capsule). Hoa thường có màu trắng, hồng hoặc đỏ, tùy loài. Ở Drosera, cụm hoa thường mọc trên cuống hoa dài, giúp hoa đưa lên cao hơn so với hoa thị lá ăn thịt. Quả chủ yếu là quả nang, khi chín mở để giải phóng nhiều hạt nhỏ. Hạt thường rất nhỏ, số lượng lớn, có thể thích nghi với sự phát tán nhờ gió hoặc nước, ở một số loài có độ ngủ của hạt (seed dormancy) và cần các điều kiện môi trường thích hợp để nảy mầm.
Droseraceae là cây ăn thịt và là điểm sinh thái quan trọng nhất của họ và thường sống ở những môi trường từ đầm lầy, đất than bùn, bãi lầy độ pH cao, đất cát nghèo dinh dưỡng, vùng đất ẩm có hàm lượng nitơ và phosphor thấp. Do đất nghèo khoáng, cây tiến hóa khả năng bắt động vật nhỏ để bổ sung chất dinh dưỡng. Tuy nhiên điều quan trọng là cây ăn thịt không bắt côn trùng chủ yếu để lấy năng lượng mà năng lượng vẫn chủ yếu đến từ quang hợp. Con mồi cung cấp thêm nitơ, phosphor và các nguyên tố khoáng.
Droseraceae thuộc Caryophyllales, nhưng không nên nhầm cây ăn thịt với một nhóm tiến hóa đơn độc. Trong Caryophyllales còn có nhiều dòng thực vật ăn thịt khác, chẳng hạn ở họ Nắp ấm Nepenthaceae và Drosophyllaceae. Khả năng ăn thịt đã tiến hóa độc lập nhiều lần trong thực vật hạt kín. Ở Droseraceae, sự thích nghi ăn thịt thể hiện qua: lá biến đổi → tuyến tiết → bắt mồi → enzyme tiêu hóa → hấp thu dinh dưỡng. Do đó, các cơ quan bắt mồi của Drosera, Dionaea và Aldrovanda có thể được xem như những lá biến đổi chuyên hóa cao.
Caryophyllales → Droseraceae → Drosera + Dionaea + Aldrovanda = cây thân thảo + môi trường nghèo dinh dưỡng + lá chuyên hóa thành bẫy + tuyến tiết chất nhầy/enzym + ăn thịt động vật nhỏ + hoa thường 5 cánh + quả nang.
Các nghiên cứu phân tử đặt nguồn gốc của họ này ở kỷ Paleocen (55 - 65 triệu năm trước), thuộc đại Tân sinh Cenozoic, ngay sau sự kiện tuyệt chủng K/T. Sự phân tách giữa nhóm Aldrovanda/Dionaea và Drosera được ước tính vào khoảng 53 triệu năm trước. Vì họ nằm ở vị trí khá gốc trong Caryophyllales nên có thể tổ tiên xa hơn đã xuất hiện từ Creta.
Các hóa thạch ghi nhận gồm phấn hoa cổ nhất được cho là của họ này là loài Droseridites parvus ở Assam (Đông bắc Ấn Độ), niên đại kỷ Paleocen (65-55 triệu năm trước), nhưng gán cho Droseraceae vẫn chưa chắc chắn. Ở thế Eocen đã ghi nhận phấn hoa dạng Aldrovanda (chi Saxonipollis) ở châu Âu và Trung Á, cùng phấn hoa giống Drosera (chi Fischeripollis) ở Úc và Nam cực. Hạt và lá Aldrovanda có ghi nhận từ thế địa chất Eocen đến Pliocen ở bán cầu Bắc và phấn hoa Drosera thực thụ xuất hiện từ thế địa chất Miocen (cổ nhất ở New Zealand).