Đặc điểm chung

Họ:Bàng Combretaceae

Combretaceae R. Br. 1814 - Là một họ thực vật hạt kín hai lá mầm thật (Eudicots) thuộc bộ Sim Myrtales. Họ này gồm nhiều loài cây gỗ, cây bụi và dây leo phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Nhiều loài có giá trị lớn về lâm nghiệp, cảnh quan, dược liệu và sinh thái. Họ này hiện có khoảng 500 - 600 loài, thuộc 14 - 16 chi (tùy hệ thống phân loại). Việt Nam có 6 chi, 30 loài.
Combretaceae có đặc điểm cây gỗ hoặc bụi hay dây leo. Lá đơn, nguyên, mọc đối hay mọc cụm, ít khi mọc cách hay mọc vòng, gốc có tuyến, không có lá kèm. Hoa nhỏ, thường lưỡng tính, đài hình ống dính với bầu 5 thuỳ; lá đài và cánh hoa 4 - 5 (6 - 8), đôi khi hoa không có tràng. Bộ nhị obdiplostemon (đôi khi không có nhị ở vòng ngoài), bao phấn đu đưa, xẻ đôi, mở dọc, thường có triền trong nhị. Bầu hạ, 1 ô, noãn treo có chân, mảnh và dài. Quả khô hay hạch có cánh ít nhiều rõ. Hạt đơn độc, lá mầm cuộn, xếp nếp hoặc vặn. Thân gỗ chắc. Vỏ thường chứa nhiều tanin. Gỗ của nhiều loài bền, chịu nước tốt. Combretaceae được chia làm ba chi lớn (chi nhỏ có Lumnitzera phân bố ở châu Á, châu Phi và châu Úc. Các chi còn lại chứa nhiều loài hơn và có quan hệ gần với họ Sim Myrtaceae). Combretaceae giữ nhiều vai trò quan trọng do cây có tán lớn tạo bóng mát và nơi cư trú cho động vật. Hoa cung cấp mật cho côn trùng và chim. Quả là nguồn thức ăn cho chim, dơi và thú. Các loài ngập mặn như Lumnitzera và Laguncularia góp phần bảo vệ bờ biển và giảm xói lở.
Các nghiên cứu DNA cho thấy Combretaceae xuất hiện khoảng 70 - 90 triệu năm trước, vào cuối kỷ Cretaceous. Họ này tiến hóa cùng với sự mở rộng của các khu rừng nhiệt đới trong đầu thế địa chất Paleocene và Eocene. Chi Terminalia và Combretum sau đó trở thành hai nhánh đa dạng nhất, thích nghi với nhiều môi trường từ rừng mưa đến xavan khô.