Đặc điểm chung

Họ:Bạch quả Ginkgoopsida

Ginkgoopsida Sergei V. Meyen, 1984 - Lớp (class) thực vật thuộc ngành (phylum) thực vật Hạt trần Gymnospermatophyta. Dựa vào các bằng chứng hóa thạch, các nhà nghiên cứu cổ thực vật đã minh chứng lớp Bạch quả Ginkgoopsida đã xuất hiện vào cuối kỷ Carbon, hay đầu kỷ Permi (khoảng 290 triệu năm). Hai trong số ba chi (Genus) thuộc bộ Bạch quả Ginkgoales - họ Bạch quả Ginkgoaceae là Ginkgoites và Baiera đã tuyệt chủng. Hiện nay, chi thứ ba Bạch quả Ginkgo chỉ có một loài (Species) duy nhất - Cây bạch quả Ginkgo biloba còn tồn tại và được ghi nhận là thực vật hóa thạch sống sót còn tồn tại trên trái đất.
Số lượng loài lớn nhất của lớp Bạch quả Ginkgoopsida xuất hiện bùng nổ trong giai đoạn Đại Trung sinh Mesozoic từ kỷ Trias, kỷ Creta tới kỷ Jura đã xuất hiện chi Bạch quả Ginkgo thuộc họ họ Bạch quả Ginkgoaceae. Từ kỷ Jura tới kỷ Creta, lớp Bạch quả Ginkgoopsida đã phát triển, phân bố rộng khắp trái đất. Vì thế đã có các hóa thạch của chi Bạch quả Ginkgo ở châu Á có quan hệ họ hàng gần với chi Ginkgo ở Trung âu. Rất nhiều hóa thạch có lá có hình dạng, gân lá gần giống cây Bạch quả Ginkgo biloba đã được tìm thấy trong kỷ Jura (200 - 146 triệu năm). Nhưng nơi được tìm thấy cách biệt về địa lý và hình thái khác nhau, nên các nhà cổ thực vật học đã mô tả và sắp xếp các loài này vào chi Ginkgoites. Với trợ giúp của các thiết bị nghiên cứu hiện đại, các nhà cổ thực vật học đã nghiên cứu hệ thống hóa ở mức phân tử các loài hóa thạch và đã tìm thấy các đặc điểm giống với cây Bạch quả Ginkgo biloba, nên được khuyến nghị bỏ chi Ginkgoites, đưa các loài này vào chi Ginkgo. Ngược lại dạng lá Bạch quả hóa thạch có dạng riêng biệt, có thùy sâu thành 4 đoạn và không có cuống, nên các nhà cổ thực vật xếp vào chi Baiera.
Cho đến hiện nay, loài thực vật có tên Bạch quả Ginkgo biloba là loài hóa thạch sống duy nhất còn tồn tại trên trái đất thuộc lớp Bạch quả Ginkgoopsida. Trong khi các loài khác thuộc lớp này (gồm 2 trong số 3 chi "genus" thuộc bộ Bạch quả Ginkgoales, họ Bạch quả Ginkgoales là Ginkgoites và Baiera) đã hoàn toàn tuyệt chủng. Số lượng bộ (Order), họ (Family) của hai loài (Species) Ginkgoites và Baiera thuộc lớp Bạch quả Ginkgoopsida đã phát triển mạnh nhất trên trái đất trong giai đoạn từ kỷ Trias tới kỷ Creta. Tới kỷ Jura chi (Genus) Bạch quả Ginkgo thuộc lớp Bạch quả Ginkgoopsida mới xuất hiện.
Từ kỷ Jura tới kỷ Creta thì lớp Bạch quả Ginkgoopsida đã phát triển, phân bố rộng khắp thế giới và có thể hóa thạch của loài Ginkgo biloba đã có quan hệ họ hàng gần với các loài thuộc chi Ginkgo ở Trung âu. Do lịch sử phát triển lâu dài của lớp Bạch quả Ginkgoopsida và hàng loạt những đặc trưng nguyên thủy, nên cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể coi là hóa thạch sống cổ nhất thuộc lớp Bạch quả Ginkgoopsida trong giới thực vật. Nhờ đó, các nhà nghiên cứu cổ thực vật học đã dùng làm bằng chứng, để mô tả và so sánh chi tiết với các hóa thạch hóa thạch thuộc lớp Ginkgoopsida đã hoàn toàn biến mất trước đó.