Bậc phân loại
Đặc điểm chung
Họ:Bạch quả Ginkgoales
Ginkgoales Gorozh., 1904 - Cũng giống như lớp (Class) Bạch quả Ginkgoopsida, bộ Bạch quả Ginkgoales cũng có các bằng chứng hóa thạch đã chứng minh bộ (Order) này đã xuất hiện vào cuối kỷ Carbon, hay đầu kỷ Permi (khoảng 290 triệu năm trước). Cho đến nay, loài thực vật có tên Bạch quả Ginkgo biloba là loài hóa thạch sống duy nhất thuộc bộ này còn tồn tại trên trái đất. Trong khi các loài khác thuộc bộ Bạch quả Ginkgoales (gồm 2 trong số 3 chi "Genus" thuộc bộ bạch quả Ginkgoales là Ginkgoites và Baiera) đã hoàn toàn tuyệt chủng). Số lượng họ (Family) của hai loài (Species) Ginkgoites và Baiera thuộc bộ bạch quả Ginkgoales đã phát triển mạnh nhất trên trái đất trong giai đoạn Đại Trung sinh (gồm 3 kỷ Triassic "Tam Điệp 252 - 201 Ma", Jurassic "Jura 201 - 145 Ma", Cretaceous (Phấn trắng 145 - 66 Ma), Ma = million years ago = triệu năm trước) từ kỷ Trias tới kỷ Jura. Ở kỷ Creta chi (genus) bạch quả Ginkgo mới xuất hiện và tồn tại cho đến ngày nay.
Từ kỷ Jura tới kỷ Creta thì bộ bạch quả Ginkgoales có phân bố rộng khắp thế giới và rất có thể hóa thạch của chi Bạch quả Ginkgo ở châu Á cũng có quan hệ họ hàng gần với chi Bạch quả Ginkgo ở Trung Âu. Do lịch sử phát triển lâu dài của lớp Bạch quả Ginkgoopsida và hàng loạt những đặc trưng nguyên thủy. Nên cây Bạch quả Ginkgo biloba có thể coi là hóa thạch sống cổ nhất thuộc bộ này trong giới (Kingdom) thực vật Plantae. Nhờ đó các nhà cổ thực vật học đã dùng làm bằng chứng, để mô tả và so sánh chi tiết các loài hóa thạch thuộc bộ Bạch quả Ginkgoales đã hoàn toàn biến mất trước đó.