TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Sự diệu kỳ của những loài lưỡng cư không chân

Tác giả: Phùng Mỹ Trung 8 Tháng 4, 2026

Bài & Ảnh: Nguyễn Quảng Trường – Phùng Mỹ TrungPhùng Nguyễn Trí LâmWebAdmin

Trong thế giới của các loài Lưỡng cư việc thay đổi hình thái từ trứng – nòng nọc – con trưởng thành trải qua một chu kỳ biến thái hết sức phức tạp và độc đáo. Sự biến thái của nòng nọc của các loài lưỡng cư có ý nghĩa lý thuyết tiến hóa rất lớn, nó chứng tỏ lưỡng cư có nguồn gốc từ động vật ở nước giống loài cá. Nòng nọc sau khi nở ra từ trứng chúng phải trải qua một chu trình đời sống dưới nước đến khi trưởng thành chúng bắt đầu phát triển các cơ quan trên cơ thể nhằm thích nghi với đời sống trên cạn và chiếc đuôi một phần thân thể rất hữu ích khi sống dưới nước của chúng cũng dần dần biến mất. Quá trình chuyển đổi từ đời sống dưới nước lên cạn đặc biệt có ý nghĩa về mặt tiến hoá. Tuy nhiên cũng có một số loài quá trình này không xảy ra theo qui luật “như lẽ thường tình” mà chúng có nhiều sự khác biệt kỳ lạ. Đó cũng là một phần tất yếu của tự nhiên tạo nên một bức tranh sinh động, diệu kỳ và không kém phần bí ẩn cho chúng ta khám phá để tìm hiểu, chiêm ngưỡng về các loài Ếch thuộc bộ Không chân Gymnophiona kỳ lạ nhất ở Việt Nam. Các loài ếch giun Ichthyophis sp.

DUNG NHAN KẺ KHÁC LẠ
Giống ếch giun có tên khoa học là Ichthyophis sp., thuộc họ Ếch giun Ichthyophiidae và bộ Không chân Gymnophiona. Những loài thuộc giống Ichthyophis thường có cơ thể giống giun song cỡ lớn hơn. Mặc dù giống “loài giun đất” nhưng chúng có kích thước lớn và màu sắc khá đa dạng. Phần đầu có mắt như hai chấm đen, nhỏ hơi dẹp, mõm tương đối nhọn và có hàm rõ. Lưng có màu xám xanh, bụng nhạt hơn. Phần giữa lưng và bụng có một dải màu trắng đục hay vàng chạy dài từ góc hàm tới góc đuôi. Chiều dài cơ thể ếch giun có thể hơn 100 mm.
Ếch giun thường sống ở những nơi có độ cao thấp từ 10 m và có thể lên tới 1.000 m. Chúng sống chui luồn trong đất, đào hang, hang chúng ở thường gặp ở những nơi đất xốp sâu khoảng từ 20 – 30 cm gần ao hồ hay chui rúc dưới các tảng đá lớn nằm cạnh các con suối.
Mặc dù là Lưỡng cư, nhưng những loài này khác hẳn với những loài lưỡng cư khác vì hàm răng của chúng phát triển mạnh. Trong khi hầu hết các loài lưỡng cư khác dùng lưỡi bắt mồi, thì ếc giun không dùng lưỡi để bắt mồi. Chúng là những loài lưỡng cư ăn thịt, nên răng đóng vai trò quan trọng trong việc săn mồi. Thức ăn của chúng là loài giun đất, côn trùng khác và những con mồi này thường trơn và dễ trượt. Vì vậy răng giúp giữ chặt con mồi khi nuốt. Răng của ếch giun thường nhỏ, nhọn và cong nhẹ. Không dùng để nhai mà chỉ để kẹp và giữ mồi. Thường có hai hàng răng ở hàm trên và hàm dưới. Khi bắt mồi chúng dùng răng cắn chặt, xoay tròn để làm đứt con mồi thành đoạn ngắn trước khi nuốt.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy ở vài loài ếch giun có tuyến độc nhỏ gần răng. Khi cắn con mồi, chất độc có thể giúp làm yếu hoặc giữ con mồi. Các chất độc yếu, chủ yếu để tự vệ và hỗ trợ bắt mồi, và không nguy hiểm cho con người. Các chất độc gồm:
Phospholipase A2 (PLA2), là enzyme độc cũng gặp trong nọc của rắn. Chất độc này có tác dụng phá hủy màng tế bào, làm tổn thương mô của con mồi.
Metalloproteinase là nhóm enzyme phân giải protein. Có thể phá vỡ mô liên kết, làm con mồi yếu đi nhanh hơn.
Hyaluronidase là enzyme giúp độc tố lan nhanh trong mô, thường được gọi là “enzyme lan truyền” trong nhiều loại nọc độc động vật.
Peptide kháng khuẩn (Antimicrobial peptides) có trong dịch tiết da của ếch giun. Chức năng chính bảo vệ cơ thể khỏi vi khuẩn và nấm, đồng thời có thể gây kích ứng đối với động vật ăn thịt.

Ếch giun Ichthyophis kohtaoensis Ảnh: Phùng Nguyễn Trí Lâm

NGƯỜI MẸ NẶNG TÌNH TRONG THẾ GIỚI LƯỠNG CƯ
Khi những cơn mưa đổ xuống vào khoảng tháng 5 – tháng 6 hằng năm trên khắp các cánh rừng Việt Nam. Những cơn mưa nặng hạt, nhiều ngày đã khiến cho độ ẩm của các cánh rừng tăng lên, các con suối, bờ nước, các khu vực lớp mùn trong lớp mặt của tầng rừng trở nên ẩm ướt đó là nơi loài ếch giun sinh sống đã có được điều kiện tốt nhất để cho chúng kết đôi và sinh sản. Chúng chọn những nơi đẻ trứng ở gần chỗ có nước, độ ẫm cao với số lượng trứng trong một lứa có chừng 20 – 30 quả được nối với nhau bằng chất nhày và ếch giun cái có nhiệm vụ cuốn lấy trứng, để bảo vệ trứng khỏi khô, đồng thời điều tiết nhiệt độ thích hợp để cho con non phát triển. Khi gặp hiện tượng này người ta thường gọi không đúng là hiện tượng “ấp trứng”và quá trình bảo vệ, bảo quản trứng, những nàng Ếch giun cái được coi như một người mẹ nặng tình mẫu tử nhất trong các loài lưỡng cư. Hầu hết các loài trong thế giới lưỡng cứ khác sẽ phó mặc những gì mình “mang nặng đẻ đau” cho tự nhiên “hành xử” ngay sau khi hoàn tất thiên chức làm mẹ.
Trong những năm gần đây loài ếch giun đã phát hiện loài này ở vài địa điểm phân bố mới ở Việt Nam: Vườn quốc gia Xuân Sơn, Phú Thọ. Vườn quốc gia Ba Vì, Hà Nội. Hòa Bình (Tân Lập) và đến tận Mũi Cà Mau, Vườn quốc gia Phú Quốc, Kiên Giang… nhưng với số lượng rất ít. Loài này chỉ sống ở những nơi đất ẩm xốp nên dễ bị đe doạ bởi rừng bị thu hẹp, đất bị xói mòn, do sử dụng thuốc trừ sâu và phân hoá học, do lũ lụt kéo dài dễ làm chúng chết ngạt trong đất. Do là loài hiếm gặp nên Ếch giun đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam và các nghị định của chính phủ nhằm bảo vệ loài lưỡng cư kỳ lạ này trong tự nhiên.

PHÁT HIỆN MỚI VỀ CÁC LOÀI ẾCH GIUN Ở VIỆT NAM
Ngoài Ếch giun Ichthyophis kohtaoensis. Trong những năm gần đây, với sự hợp tác quốc tế đã có ít nhất 4 loài Ếch giun được phát hiện và công bố ở Việt Nam gồm:

Ếch giun nguyễn Ichthyophis nguyenorum
Loài ếch giun mới có tên là Ếch giun nguyễn Ichthyophis nguyenorum được đặt tên theo tên của hai nhà nghiên cứu về bò sát và ếch nhái của Việt Nam, Nguyễn Quảng Trường (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật) và Nguyễn Thiên Tạo (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam), những người đã có nhiều đóng góp trong việc phát hiện nhiều loài mới ở Việt Nam.

Ếch giun nguyễn Ichthyophis nguyenorum Ảnh: Nguyễn Quảng Trường

Ếch giun nguyễn có chiều dài toàn bộ cơ thể khoảng 26,5 – 30,7 cm, cơ thể hình trụ, hơi dẹp ở mặt bụng; dài đuôi 2,5 – 3,1 mm, rộng đuôi 3,4 – 4,3 mm, mút đuôi tròn, không có núm che; số đốt dọc thân khoảng 312 – 318 trong đó có 4 đốt ở phần đuôi, số răng trước hàm và răng hàm trên khoảng 27 – 37, số răng lá mía – vòm miệng khoảng 23 – 28, số răng chính thức 24 – 28, số gờ răng khoảng 21 – 25. Mặt lưng có màu tím đen, dưới bụng nhạt hơn màu hoa cà, hai bên sườn có sọc màu vàng liên tục, không đứt quãng, chạy từ khoảng giữa hàm trên (mấu xúc – tu) đến gần mút đuôi. Mắt có viền mỏng màu trắng đục. Loài đặc hữu Việt Nam, phân bố ở Gia Lai, Kontum, Đắk Lắk, vùng cao nguyên Trung phần dọc theo dãy trường sơn Việt Nam.

Ếch giun cát lộc Ichthyophis catlocensis
Ếch giun cát lộc có chiều dài toàn bộ cơ thể khoảng 25 – 30 cm, cơ thể hình trụ, vòng đốt (annuli) rõ trên thân. Có sọc vàng dọc thân, mõm tù và tròn. (SP/HL = 0.07); TN/ET = 4.5, Số răng trước hàm và răng hàm trên 44, số răng lá mía – vòm miệng 51, số răng chính thức 27, số răng hàm dưới bên trong 16. hàng răng hàm dưới bên trong ngắn hơn hàng răng chính thức. Mút đuôi có núm che. Số đốt dọc thân 342 trong đó có 5 bị chèn bởi lỗ huyệt, 5 đốt ở sau lỗ huyệt, Lỗ huyệt có hình bầu dục. Số đốt sống 110. Vảy chỉ có ở nửa sau thân, trong một hàng trên đốt vòng. Loài đặc hữu Việt Nam, phân bố ở khu vực Cát Lộc, Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam năm 2015.

Ếch giun cát lộc Ichthyophis catlocensis Ảnh: Peter Grissmer

Ếch giun cát lộc Ichthyophis chaloensis
Ếch giun chalo có kích thước thỏ. Cơ thể có màu xanh đen tuyền, không có đường dọc kẻ vàng dọc thân, mõm thon nhọn và lồi cao lên. Số răng trước hàm và răng hàm trên 37, số răng lá mía – vòm miệng 54, số răng chính thức 26, số răng hàm dưới bên trong 11, hàng răng hàm dưới bên trong ngắn hơn hàng răng chính thức. Đuôi nhọn, ở mút đuôi có núm che. Số đốt dọc thân 344 trong đó có 3 bị chèn bởi lỗ huyệt, 5 đốt ở sau lỗ huyệt, Lỗ huyệt có hình bầu dục. Số đốt sống 110. Vảy chỉ có ở nửa sau thân, trong một hàng trên đốt vòng. Loài đặc hữu Việt Nam, phát hiện ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng thuộc tỉnh Quảng Bình năm 2015.

Ếch giun chalo Ichthyophis chaloensis Ảnh: Phạm Thế Cường

Ếch giun xám Ichthyophis griseivermis
Ếch giun xám có thân gần như hình trụ. Đầu, vùng váy và thân hơi hóp theo mặt bên bên lưng. Thân nhọn phía sau, ngấn bóp giảm kích thước ở chỗ khoảng 1/5 chiều dài thân, kết thúc ở chót đuôi tù, có mũi nhỏ hình núm vú. Đuôi quặp xuống ở chót, rất ngắn, hơi dài hơn khoảng cách từ mõm đến xúc tu. Đầu dài hơn rộng. Mặt lưng của đầu hơi dẹt. Đầu thiên về hình chữ V hơn là chữ U ở góc nhìn từ lưng xuống. Ở góc nhìn từ lưng, chiều rộng đầu ở mức góc mõm nhỏ hơn chiều rộng của đốt cổ đầu tiên. Đầu hẹp về phía xúc tu và dần nhọn từ những xúc tu đến mõm. Ở góc nhìn ngang, đầu nhọn chóp nón trên khoảng cách giữa đốt cổ đầu tiên đến lỗ mũi. Các lỗ mũi gần mút mõm hơn mắt. Mép môi phẳng và thẳng. Các góc mõm gần họng hơn đỉnh đầu. Gần cuối mõm có môi trên và môi dưới gần như giống nhau về chiều dài. Góc nhìn từ bụng, vùng họng phẳng. Mắt rất nhỏ, đường kính mắt hơi lớn hơn đường kính lỗ mũi và gần bằng kẽ hở của xúc tu. Được phủ bởi lớp da nửa trong suốt màu trắng xám.
Mắt tròn, được bao quanh bởi vòng trắng hẹp, hình thành một đĩa trung tâm màu xám sẫm, có con ngươi tròn cực kỳ nhỏ có thể thấy được qua lớp da. Ở góc nhìn bên, mắt nằm ở khoảng cách từ môi đến đỉnh đầu. Khe xúc tu nằm ở chỗ gần mắt gấp hai lần so với khoảng cách đến mũi, hầu như chạm mép trên môi, gần bằng kích thước của mắt. Núm xúc tu ở mức trên da liền kề và rõ ràng ở các góc nhìn từ bụng, bên và lưng. Lỗ mũi nhỏ, hình bầu dục, hướng trước bên. Răng nhỏ, uốn cong vào trong, hầu như dạng móc câu, xếp thành hai hàng ở hàm trên và hàm dưới, gồm có 150 cái răng. Lưỡi hình tam giác có chót nhọn, uốn nếp ở phía sau, không có rãnh dọc giữa. Khoang mũi họng hẹp. Vòng cổ thứ nhất rộng hơn đầu ở mức góc miệng. Loài đặc hữu Việt Nam, phân bố ở Vườn quốc gia Xuân Liên, Thanh Hóa và Vườn quốc gia Pù Hoạt, Nghệ An.

Ếch giun xám Ichthyophis griseivermisẢnh: A. M. Bragin

Bài viết liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae