TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Cốt toái bổ

Tên tiếng Anh: No english name
Tên Latin: Drynaria roosii
Đồng danh: Drynaria fortunei (Kunze ex Mett.) J.Sm., 1857
Đồng danh: Polypodium fortunei Kunze ex Mett., 1856
Đồng danh: Aglaomorpha fortunei (Kunze ex Mett.) Hovenkamp & S.Linds., 2017
Đồng danh: Drynaria roosii Nakaike, 1992
Tên khác: Hộc huyết

CỐT TOÁI BỔ

Drynaria roosii Nakaike, 1992
Drynaria fortunei (Kunze ex Mett.) J.Sm., 1857
Polypodium fortunei Kunze ex Mett., 1856
Aglaomorpha fortunei (Kunze ex Mett.) Hovenkamp & S.Linds., 2017
Họ: Dương xỉ đa túc Polypodiaceae
Bộ: Dương xỉ thật Polypodiales

Đặc điểm nhận dạng:
Dương xỉ sống nhiều năm, phụ sinh trên đá hay trên thân cây gỗ. Thân rễ hơi dẹt, phân nhánh, mọng nước; phủ đầy lông dạng vảy nhỏ, màu nâu. Có 2 loại lá: Lá hứng mùn màu nâu, bất thụ; không cuống; hình trái xoan, gốc hình tim, cỡ 5 – 8 x 3 – 6 cm; mép khía răng sâu, nhọn, gân nổi rõ. Lá hữu thụ màu xanh; có cuống; phiến xẻ thuỳ sâu hình lông chim; cỡ 25 – 50 x 8 – 15 cm; cứng; gân phụ nổi rõ; mamg nhiều túi tử nang, sắp xếp thành hàng, tương đối đều nhau giữa 2 hàng gân lá. Bào tử hình tròn, màu vàng nhạt.
Sinh học, sinh thái:
Mùa có bào tử tháng 5 – 8. Nhân giống tự nhiên bằng bào tử. Lá non hoặc chồi mọc ra hàng năm vào giữa mùa xuân. Khi thân rễ bị đứt đoạn, phần còn lại vẫn bám ở giá thể, có khả năng tái sinh. Cây ưa ẩm, hơi chịu bóng, sống bám trên đá hay thân cây gỗ lớn trong rừng ẩm thường xanh – nhất là loại hình rừng núi đá vôi.
Phân bố:
Trong nước: Hà Giang (Bắc Quang, Quản Bạ, Vị Xuyên), Hà Tĩnh (Hương Sơn, Vũ Quang), Nghệ An (Quỳ Châu, Pù Mát, Pù Hoạt), Quảng Bình (Bố Trạch), Sơn La (Mộc Châu, Xuân Nha), Thanh Hoá (Xuân Liên), Tuyên Quang (Trạm Chu), Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Yên Bái (Văn Chấn).
Nước ngoài: Trung Quốc, Đài Loan, Lào, Thái Lan.
Giá trị:
Thân rễ là vị thuốc được dùng nhiều trong y học cổ truyền, làm thuốc chữa đau lưng, đau nhức xương khớp, bệnh về thận. Dùng tươi để bó gãy xương.
Tình trạng:
Loài này phân bố rộng ở miền Bắc Việt Nam vào đến Quảng Bình. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt do tác động của các hoạt động canh tác nông nghiệp và phát triển du lịch, làm đường. Loài này bị khai thác quá mức làm dược liệu. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: EN A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Phục hồi quần thể trong tự nhiên, có thể tiến hành nhân trồng cây thuốc này.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 536.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae