Xén tóc nâu
| Tên tiếng Anh: | Sugarcane longhorn stemborer |
|---|---|
| Tên Latin: | Dorysthenes buqueti |
| Đồng danh: | Lophosternus buqueti Guérin - Méneville, 1844 |
| Đồng danh: | Cyrtognathus buqueti Lameere, 1885 |
| Đồng danh: | Lophosternus similis Gahan, 1906 |
| Đồng danh: | Lophosternus buqueti Breuning & Itzinger, 1943 |
| Tên khác: | Xén tóc tre nứa |
- Độ cao so mặt nước biển 400 M //php } ?>
- Mã định danh001
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Campuchia Lào Thái Lan Ấn Độ Hầu khắp khu vực có rừng ở Việt Nam Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Vườn quốc gia Phước Bình, Việt Nam Vườn quốc gia Bidoup-Núi Bà, Việt Nam Khu bảo tồn thiên nhiên văn hóa Đồng Nai
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng tre nứa Sống ở trên cây Bọ cánh cứng Beetles
XÉN TÓC NÂU
Dorysthenes buqueti (Guérin – Méneville, 1844)
Lophosternus buqueti Guérin – Méneville, 1844
Cyrtognathus buqueti Lameere, 1885
Lophosternus similis Gahan, 1906
Lophosternus buqueti Breuning & Itzinger, 1943
Họ: Xén tóc Cerambycidae
Bộ: Cánh cứng Coleoptera
Đặc điểm nhận dạng:
Loài xén tóc có kích thước trung bình, chiều dài cơ thể khoảng 38 – 41 mm (1,5 – 1,6 in) và chiều rộng cơ thể trong khoảng 14 – 16 mm (0,55 – 0,63 in). Màu sắc chủ đạo là màu nâu, nâu đỏ hoặc nâu sáng bóng, phần đầu, răng, gốc anten có màu đen đậm\. Anten khá dài và chia từ 10 – 12 đốt, các đốt gốc phình to rõ rệt. Thân ngắn, mỗi bên thân có 3 gai nhọn, 2 gai gần đầu bằng nhau và gai gần bụng nhỏ hơn.
Sinh học, sinh thái:
Cá thể trưởng thành là loài ăn đêm và thường xuất hiện từ tháng tư đến tháng sáu hằng năm ở phía Nam sau mưa. Ấu trùng của chúng là loài sâu hại mía và tre hay các loài thực vật thuộc họ Cỏ Poaceae. Ấu trùng đào trong các loài tre, luồng gây thiệt hại nghiêm trọng khi chúng phát triển mạnh dẫn đến thiệt hại lớn cho các loài cây trồng này.
Phân bố:
Trong nước: Loài khá phổ biến và phát hiện ở hầu hết các tỉnh phía Nam Việt Nam.
Nước ngoài: Loài phổ biến ở Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Cambodia và Myanmar.
Giá trị:
Loài bọ cánh cứng có giá trị về nguồn gen, thẩm mỹ, làm tiêu bản phục vụ nghiên cứu, học tập cho học sinh, sinh viên về tập tính, sinh thái loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Ở Việt Nam loài này rất phổ biến, chúng thường ăn hoa và mật hoa trên các loài thực vật có hoa nở trong rừng. Ấu trùng của chúng đục thân, hại cây rừng nên ít được quan tâm bảo vệ. Con người chủ yếu nghiên cứu cách tiêu diệt ấu trùng của chúng để tránh hại cây trồng nông, lâm nghiệp.
Biện pháp bảo vệ:
Cần có các nghiên cứu tiêu diệt ấu trùng loài bọ cánh cứng gây hại cho cây trồng nông, lâm nghiệp. Nhưng vẫn phải khoanh vùng bảo vệ để tránh mất cân bằng sinh thái loài trong tự nhiên.
Mô tả loài: Phùng Mỹ Trung, Tô Văn Quang – WebAdmin.
- Documentation and reference sources:001
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Thạch sùng đuôi sần
Tên tiếng Anh:Common house gecko
Tên Latin:Hemidactylus frenatus
Cẩm liên
Tên tiếng Anh:No english name
Tên Latin:Shorea siamensis
Bọ lá cát tiên
Tên tiếng Anh:Cat tien leaf insect
Tên Latin:Cryptophyllium phami
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae