TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Vượn đen má vàng

Tên tiếng Anh: Southern yellow-cheeked gibbon
Tên Latin: Nomascus gabriellae
Đồng danh: Hylobates gabriellae Thomas 1909
Đồng danh: Nomascus gabriellae (Thomas, 1909)
Đồng danh: Hylobates gabriellae Thomas 1909
Đồng danh: Nomascus gabriellae (Thomas, 1909)
Tên khác: Vượn má vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 2300 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VƯỢN ĐEN MÁ VÀNG

Nomascus gabriellae (Thomas, 1909)
Hylobates gabriellae Thomas 1909
Họ: Vượn Hylobatidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Có bộ lông dày và mềm. Con đực có màu đen, trên hai má có hai đám lông màu vàng nhạt. Trên đỉnh đầu có đám lông dựng đứng như cái mào. Trọng lượng thường từ 6 – 10 kg. Đám lông trước ngực màu nâu, không phải màu đen. Chân tay dài không có đuôi. Con cái có màu lông không phải màu đen. Lưng và đùi có màu vàng nhạt không phải xám hoặc nâu. Có một túm lông màu thẫm thẳng đứng trên đỉnh đầu. Trọng lượng trung bình từ 6 – 10 kg. Lông ở ngực màu xám. Lông quanh mặt thường màu vàng. Lông hai bên má thường thẳng ra phía ngoài.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn trên cây cao. Thức ăn là lá cây, chồi non, quả cây và côn trùng, trứng chim, chim non trong tổ, trái cây (43,3%), tiếp theo là lá (38,4%), hoa (11,6%) và các bộ phận khác của cây (6,0%). Bắt đầu sinh sản vào năm thứ 7 – 8. thời gian có chửa 7 – 8 tháng. Hai năm đẻ một lần, mỗi lần đẻ một con. Vượn đen thường sống trong sinh cảnh rừng già trên đỉnh núi cao. Thường sống trong các khu rừng già, rậm. Không sống trong rừng thưa, rừng tre lứa. Vượn sống thành từng nhóm nhỏ như một gia đình; Gồm một đực già, 1 – 2 con cái và các con của chúng. Một nhóm có một khu vực cư trú riêng tách biệt với các nhóm khác. Đôi khi gặp những nhóm nhỏ tách khỏi đàn để lập nhóm mới, hoạt động vào ban ngày và tích cực nhất vào sáng sớm và chiều tối. Trưa và ban đêm ngồi nghỉ trên ngọn cây. Thường hay kêu hú vào sáng sớm.
Phân bố:
Trong nước: Khánh Hoà (Hòn Bà), Ninh Thuận (Phước Bình, Ninh Sơn), Lâm Đồng (Bảo Lộc, Bidoup – Núi Bà), Đắk Lắk (Chư Yang Sin, Yok Đôn), Đắk Nông (Nam Nung, Tà Đùng), Bình Phước (Bù Gia Mập), Bình Thuận (Núi Ông), Đồng Nai (Đồng Nai, Cát Tiên).
Nước ngoài: Lào Campuchia.
Giá trị:
Là đối tượng nghiên cứu khoa học, tìm hiểu sinh thái tập tính của loài trong tự nhiên để tìm hiểu về tiến hóa của các loài Linh trưởng. Là giáo cụ trực quan giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu, nghiên cứu tập tính loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Vượn má vàng ghi nhận phân bố ở khu vực Tây Nguyên và Nam Bộ. Loài này bị săn bắt làm thực phẩm, dược liệu và nuôi làm cảnh; sinh cảnh sống bị chia cắt, thu hẹp và suy thoái do chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng và khai thác lâm sản. Kích cỡ quần thể ước tính đã suy giảm > 50% trong 45 năm qua.
Phân hạngEN A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nhóm IB Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các Vườn quốc gia Cát Tiên, Bù Gia Mập và Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên, vẫn rất cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 34.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae