TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Joel Sartore

Vượn đen má vàng trung bộ

Tên tiếng Anh: Northern yellow-cheeked crested gibbon
Tên Latin: Nomascus annamensis
Đồng danh: Nomascus annamensis Van et al., 2010
Đồng danh: Nomascus annamensis Van et al., 2010
Đồng danh: Nomascus annamensis Van et al., 2010
Đồng danh: Nomascus annamensis Van et al., 2010
Tên khác: Vượn má vàng trung bộ
  • Độ cao so mặt nước biển 1200 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VƯỢN ĐEN MÁ VÀNG TRUNG BỘ

Nomascus annamensis Van et al., 2010
Họ: Vượn Hylobatidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Có bộ lông dày và mềm. Con đực có màu đen, trên hai má có hai đám lông màu vàng nhạt. Trên đỉnh đầu có đám lông dựng đứng như cái mào. Con đực nặng trung bình 7 kg và dài khoảng 46,2 cm (tính cả đầu và thân). Trọng lượng trung bình của một con vượn má vàng trung bộ cái vẫn chưa được xác định, nhưng với chiều dài trung bình hơn 43,8 cm, lớn hơn vượn đực. Mặc dù tuổi thọ của chúng chưa được nghiên cứu, nhưng một số loài vượn được biết là có thể sống tới 30 năm trong tự nhiên. Lông ở ngực màu xám. Lông quanh mặt thường màu vàng. Lông hai bên má thường thẳng ra phía ngoài.
Vượn má vàng trung bộ là loài mới được mô tả gần nhất của giống Nomascus năm 2010. Trước đây, loài này được xem là thuộc loài Vượn má vàng (Nomascus gabriellae) hoặc loài Vượn siki Nomascus siki. Trên cơ sở phân tích di truyền và âm sinh học tiềng hót loài này được tách khỏi 2 loài trên và mô tả thành loài độc lập.
Sinh học, sinh thái:
Kiếm ăn trên cây cao, thường được ghi nhận trong các khu rừng thường xanh nhiệt đới, ở độ cao tới trên 1.200m. Loài này dành phần lớn thời gian sống trên cây và rất ít khi xuống đất, sống thành đàn theo gia đình với 1 đực và 1 cái cùng với các con non, phạm vi vùng sống khoảng 20 – 50 ha. Thức ăn Trái cây, lá non, hoa và các loại khác. Ăn nhiều trái cây vào mùa mưa (tháng 4 – 10), ăn nhiều lá và trái cây vào mùa khô. Vượn má vàng trung bộ sinh sản 2 – 3 năm một lần, thời gian mang thai từ 7 – 8 tháng, mỗi lần sinh một cá thể. Các loài vượn trưởng thành sau 5 năm trong nuôi nhốt và khoảng 7 – 8 năm trong tự nhiên. Tuổi thọ trung bình khoảng 30 năm và có thể sống tới 50 năm trong môi trường nuôi nhốt, thời gian 1 thế hệ khoảng 15 năm.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Trị (Đắc Rông), Thừa Thiên Huế (Phong Điền, Bạch Mã, KBT Sao La), Quảng Nam (Sông Thanh, KBT Sao La, Đông Giang, Tây Giang), Kontum (Ngọc Linh, Chư Mom Ray, Kon Plông, Tu Mơ Rông), Quảng Ngãi (Ba Tơ), Gia Lai (Kon Ka Kinh, Kon Chư Rang, Trạm Lập, Đăk Krông, A Yun Pa), Bình Định (An Toàn).
Thế giới: Lào, Cambodia.
Giá trị:
Là đối tượng nghiên cứu khoa học, tìm hiểu sinh thái tập tính của loài trong tự nhiên để tìm hiểu về tiến hóa.
Tình trạng:
Vượn má vàng trung bộ phân bố ở các tỉnh miền Trung từ Quảng Trị vào đến Bình Định, là đối tượng bị săn bắt làm thực phẩm, dược liệu và sinh vật cảnh. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, thu hẹp và suy thoái do xâm lấn đất rừng và khai thác lâm sản. Quần thể của loài ước tính đã giảm > 50% trong 45 năm và dự đoán sẽ tiếp tục suy giảm ở mức độ tương tự trong 15 năm tiếp theo.
Phân hạngEN A2cd+4cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài..

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae