TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Thai National Park

Vọoc xám

Tên tiếng Anh: Tenasserim lutung
Tên Latin: Trachypithecus crepusculus
Đồng danh: Trachypithecus barbei (Anderson, 1879)
Đồng danh: Trachypithecus atrior (Pocock, 1928)
Đồng danh: Pithecus pyrrhus atrior Pocock, 1928
Đồng danh: Trachypithecus atrior (Pocock, 1928)
Tên khác: Vẹc tro
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VOỌC XÁM

Trachypithecus crepusculus (Elliot, 1909)
Trachypithecus barbei (Anderson, 1879)
Pithecus pyrrhus atrior Pocock, 1928
Trachypithecus atrior (Pocock, 1928)
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông màu xám tro tới màu nâu đen, trên đầu có mào lông, da bao quanh mắt có màu xanh và trắng. Lông ở vùng lưng thẫm hơn ở vùng bụng. Bên hông có các lông dài, đầu lông có ánh bạc. Đuôi dài hơn thân, lông đuôi rất dài. Chân tay có màu đen, phần trên cánh tay, chân và đuôi có màu xám bạc.
Sinh học, sinh thái:
Thức ăn chủ yếu là quả 24,4%, lá 58,4%, các loại khác 9,7%. Voọc xám sinh sản quanh năm. Gặp voọc cái có chửa vào tháng 3 và tháng 7. Gặp voọc mẹ mang con trên ngực vào tháng 4, 6, 10, 12. Mỗi lứa đẻ một con, con non màu vàng nhạt. Voọc xám thường sinh sống ở những vùng rừng cây cao trên núi đá vôi, không sống trên rừng hỗn giao tre nứa. Hoạt động vào ban ngày. Cuộc sống leo trèo trên cây. Có thể gặp chúng kiếm ăn ở vùng đồi cây bụi gần rừng. Thường ngủ trên các vánh núi đá vôi dựng đứng hoặc trên các gốc cây mọc ở vách núi treo leo. Mùa đông ngủ trong hang hoặc trên các tán cây rậm kín gió. Voọc xám sống chung với khỉ mốc, khỉ vàng nhưng không cạnh tranh về thức ăn. Kẻ thù tự nhiên là các loài thú ăn thịt cỡ lớn. Chúng sống thành từng nhóm từ 3- 30 cá thể.
Phân bố:
Trong nước: Điện Biên (Mường Nhé), Lào Cai (Hoàng Liên), Sơn La (Mường La, Pù Yên), Yên Bái (Mù Căng Chải), Hoà Bình (Hang Kia – Pà Cò), Phú Thọ (Xuân Sơn), Thanh Hoá (Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, Bến En), Nghệ An (Pù Hoạt, Pù Mát, Pù Huống), Hà Tĩnh (Vũ Quang, Anh Sơn).
Nước ngoài: Campuchia, Trung Quốc, Lào, Myanmar, Thái Lan.
Giá trị sử dụng:
Có giá trị khoa học cao có thể dùng làm mẫu vật nghiên cứu, dùng để nuôi làm cảnh ở các vườn thú hay công viên hoang dã, giúp học sinh, sinh viên tìm hiểu tập tính, sinh thái loài.
Tình trạng:
Voọc xám phân bố ở một số tỉnh miền núi Tây Bắc vào đến Hà Tĩnh. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt, thu hẹp và suy thoái do mất rừng và khai thác lâm sản; kích cỡ quần thể nhỏ, ước tính < 400 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể khoảng 80 – 100; Loài này cũng bị săn bắt và buôn bán làm thực phẩm, dược liệu; quần thể của loài ước tính đã suy giảm > 80% trong vòng 40 năm qua.
Phân hạngCR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loàinâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae