TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Lê Khắc Quyết

Vọoc mông trắng

Tên tiếng Anh: Delacour's langur
Tên Latin: Trachypithecus delacouri
Đồng danh: Pithecus delacouri Osgood, 1932
Đồng danh: Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932)
Đồng danh: Pithecus delacouri Osgood, 1932
Đồng danh: Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932)
Tên khác: Voọc quần đùi trắng
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VOỌC MÔNG TRẮNG

Trachypithecus delacouri (Osgood, 1932)
Pithecus delacouri Osgood, 1932
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates.

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông dày rậm, thô và màu đen. Đầu có mào lông hình chóp đen. Đám lông trắng trên má rộng, vượt lên trên vành tai. Lông vùng mông và đùi trắng. ở con cái, lông từ hông đến đùi có sự thay đổi màu, bình thường màu trắng và chuyển sang màu nâu nhạt rồi nâu thẫm trong thời kỳ mang thai và nuôi con non. Đuôi dài, lông dày, bông, sợi lông mọc vuông góc với đuôi và màu đen. Mặt trụi lông. Mắt nâu đen. Voọc non mới sinh có bộ lông màu vàng tơ và bắt đầu chuyển dần sang màu đen sau 4 tháng tuổi. Sau 10 tháng tuổi, toàn bộ cơ thể chuyển sang màu đen rõ, phần hông, đùi màu trắng, chỏm lông đỉnh đầu màu vàng nhạt. Sau 3 năm tuổi màu lông giống con trưởng thành.
Sinh học, sinh thái:
Voọc mông trắng sống chủ yếu ở rừng cây gỗ trên núi đá vôi. Tuy nhiên do sự chia cắt, nên Voọc mông trắng sống cả trong những sinh cảnh rừng nghèo, thậm chí chỉ có dây leo bụi rậm (Vân Long, Ninh Bình). Cũng như các loài trên, Voọc mông trắng sống đàn. Kết quả khảo sát thực địa cho thấy số lượng con trong đàn biến đổi từ 5 đến 10 con. Vùng hoạt động kiếm ăn của Voọc mông trắng tương đối rộng, cả trên núi đất lẫn núi đá nhưng chúng ngủ trên núi đá. Mùa nóng, Voọc mông trắng ngủ trên vách đá, mùa lạnh ngủ hang. Kiếm ăn ngày hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Nghiên cứu trong điều kiện nuôi nhốt cho thấy Voọc thường có giấc ngủ trưa bắt đầu từ khoảng 12 giờ và tỉnh dậy vào khoảng 13 giờ. Thời gian ngủ trưa kéo dài từ 37 đến 60 phút. Voọc mông trắng ăn lá, chồi non và quả cây rừng.
Không ăn động vật. Nghiên cứu thức ăn tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Cúc Phương đã ghi nhận được Voọc mông trắng ăn 204 loài thực vật thuộc 57 Họ. Trong 204 loài thực vật làm thức ăn, Voọc mông trắng ăn chồi lá 203 loài, ăn hoa của 16 loài, quả của 13 loài, củ 3 loài và ăn vỏ của 10 loài. Nhu cầu thức ăn trung bình ngày là 1184g, (bằng 16.91% trọng lượng cơ thể) và phụ thuộc vào giới tính, tuổi và thời tiết (chủ yếu là nhiệt độ) trong ngày. Lượng nước uống trong ngày biến động từ 400 đến 500 ml/con. Kẻ thù tự nhiên của chúng là các loài thú ăn thịt lớn.
Dẫn liệu sinh sản Voọc mông trắng còn ít. Quan sát tại Trung tâm cứu hộ thú Linh trưởng Primates Cúc Phương cho thấy hoạt động giao phối của Voọc mông trắng thường diễn ra vào hai thời điểm sáng sớm và sau buổi ăn chiều. Thời gian giao phối kéo dài 15 dến 30 giây. Thời gian mang thai trung bình 196 ngày. Mùa sinh sản tập trung từ tháng 12 đến tháng 8. Mỗi lứa đẻ một con, con sơ sinh nặng 350 – 500g. Bộ lông con sơ sinh màu vàng. Voọc trưởng thành sinh dục sau 5 năm tuổi.
Phân bố:
Trong nước: Hoà Bình (Lạc Thuỷ), Hà Nội (Hương Sơn), Hà Nam (Kim Bảng), Ninh Bình (Cúc Phương, Vân Long, Yên Mô).
Nước ngoài: Chưa có dẫn liệu.
Giá trị:
Voọc mông trắng là nguồn gen đặc hữu, qúy hiếm. Theo dõi tập tính sinh thái của chúng để tìm hiểu về tiến hóa của con người. Là công cụ sống để giáo dục học sinh, sinh viên về tập tính loài và đa dạng sinh học.
Tình trạng:
Voọc mông trắng phân bố rải rác ở sinh cảnh núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam. Sinh cảnh sống bị chia cắt, thu hẹp và suy thoái do mất rừng, khai thác lâm sản và canh tác nông nghiệp. Loài này cũng bị săn bắt làm thực phẩm và dược liệu. Kích cỡ quần thể ước tính đã suy giảm > 80% trong 36 năm qua.
Phân hạng: CR A2cd.
Biện pháp bảo vệ:
Voọc mông trắng bị săn bắt làm vật nuôi, làm thực phẩm và dùng trong y học cổ truyền. Sinh cảnh sống của loài bị chia cắt và suy thoái do xâm lấn đất rừng tự nhiên để mở rộng đất sản xuất, khai thác khoáng sản và đá, khai thác gỗ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae