TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Darragh Kane

Vọoc đen má trắng

Tên tiếng Anh: François' langur
Tên Latin: Trachypithecus francoisi
Đồng danh: Semnopithecus francoisi Pousargues, 1898
Đồng danh: Semnopithecus francoisi Pousargues, 1898
Đồng danh: Semnopithecus francoisi Pousargues, 1898
Đồng danh: Semnopithecus francoisi Pousargues, 1898
Tên khác: Voọc má trắng
  • Độ cao so mặt nước biển 600 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VOỌC ĐEN MÁ TRẮNG

Trachypithecus francoisi (De Pousargues, 1898)
Semnopithecus francoisi Pousargues, 1898
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông dày, màu đen tuyền. Hai má trắng, đám lông trắng rộng vượt quá chỏm vành tai. Đầu thường có mào lông đen. Đuôi dài hơn thân, mầu đen.
Sinh học, sinh thái:
Voọc đen má trắng chủ yếu sống ở rừng trên núi đá vôi và kiếm ăn trong các dải rừng kín thường xanh tiếp giáp với rừng núi đá vôi gân vung sống của chúng. Voọc đen má trắng sống đàn. Trước đây, đàn voọc thường rất đông, 20 – 30 con (Lê Hiền Hào, 1973), nhưng hiện nay phổ biến tư 5 đến 15 con (Phạm Nhật, 2000). Hoạt động kiếm ăn của Voọc đen má trắng diễn ra ngay hai buổi sáng và chiều, trưa nghỉ. Cường độ kiếm ăn của voọc má trắng diễn ra mạnh vào hai thời điểm, đầu buổi sáng đến khoảng 10 giờ và từ 14 giờ đến 16 giờ 30 phút. Thời gian hoạt động trong ngày có khác nhau. Mùa nóng Voọc rời chỗ ngủ sớm, về hang muộn va thời gian nghỉ trưa khá dài. Về mùa lạnh, chúng đi kiếm ăn muộn và về hang ngủ sớm. Voọc đen má trắng ăn lá chồi non và quả cây rừng, không ăn động vật.
Bước đầu đã ghi nhận được 44 loài thuộc 22 họ thực vật được Voọc đen má trắng sử dụng làm thức ăn. Có nhiều loài thực vật được Voọc đen má trắng thích ăn nhất là cây họ Dâu tằm Moraceae, Ba mảnh vỏ Ephorbiaceae, Cau dừa Arecaceae. Các số liệu nghiên cứu cho thấy tuy Voọc má trắng ăn rất nhiều loại quả nhưng trong khẩu phần thức ăn thì khối lượng lá, đặc biệt là cuống chiếm tỷ lệ nhiều hơn các loại thức ăn quả và thân. Lá, quả và hạt. Voọc đen má trắng chuyển từ ăn lá nhiều hơn vào mùa xuân (93%) và mùa hè (79%) sang ăn quả nhiều hơn vào mùa thu (53%) và mùa đông (56%). Voọc đen má trắng chủ yếu ngủ hang. Mùa nóng, chúng ngủ trên những tảng đá hoặc cây gỗ trước cửa hang, mùa lạnh ngủ trong hang. Hang ngủ của Voọc thường tìm thấy ở những nơi vách đá dựng đứng. Dẫn liệu sinh sản của Voọc đen má trắng còn thiếu. Quan sát thực địa thường gặp con mẹ mang con non ở các tháng khác nhau của năm, nhưng tập chung từ tháng 3 đến tháng 7. Mỗi lứa đẻ một con, con non mới đẻ có bộ lông màu vàng.
Phân bố:
Trong nước: Tuyên Quang (Na Hang, Lâm Bình), Bắc Kạn (Ba Bể, Nam Xuân Lạc), Thái Nguyên (Thần Sa – Phượng Hoàng).
Nước ngoài: Trung Quốc (Quảng Tây).
Giá trị:
Voọc đen má trắng là loài linh trưởng quý hiếm và có giá trị khoa học, thẩm mỹ. Là giáo cụ để giúp học sinh, sinh viên học tập và nghiên cứu về đa dạng loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Voọc đen má trắng phân bố rải rác ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Loài này bị săn bắt làm thực phẩm, dược liệu và làm cảnh. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do mất rừng, khai thác khoáng sản, đá và lâm sản. Kích cỡ quần thể của loài ước tính đã giảm > 80% trong 36 năm qua, hiện không còn ghi nhận ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Vĩnh Phúc, Lào Cai và Yên Bái. Số lượng cá thể ở Việt Nam ước tính < 250 cá thể và số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể < 50.
Phân Hạng: CR A2acd+C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loàinâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae