TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Mạnh Hiệp

Vọoc đầu trắng cát bà

Tên tiếng Anh: Cat Ba langur
Tên Latin: Trachypithecus poliocephalus
Đồng danh: Pithecus poliocephalus Trouesart, 1911
Đồng danh: Semnopithecus (Lophopithecus) poliocephalus Trouesart, 1911
Đồng danh: Pithecus poliocephalus Trouesart, 1911
Đồng danh: Semnopithecus (Lophopithecus) poliocephalus Trouesart, 1911
Tên khác: Voọc đầu vàng
  • Độ cao so mặt nước biển 130 M
  • Mã định danh002
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

VOỌC ĐẦU TRẮNG CÁT BÀ

Trachypithecus poliocephalus (Trouesart, 1911)
Pithecus poliocephalus Trouesart, 1911
Semnopithecus (Lophopithecus) poliocephalus Trouesart, 1911
Họ: Khỉ Cercopithecidae
Bộ: Linh trưởng Primates

Đặc điểm nhận dạng:
Bộ lông dày, sợi lông hơi thô cứng, màu đen và lông màu nâu sẫm. Con trưởng thành có đầu, vai màu trắng vàng. Vùng mông màu xám nhạt. Đầu có mào lông với gốc lông màu vàng nhạt, mút lông phớt xám. Đuôi rất dài (khoảng 85 cm so với kích thước cơ thể (khoảng 50 cm) thon, dày lông và màu đen. Con non mới sinh có lông màu vàng nhạt, lông bắt đầu đổi màu từ khoảng tháng thứ tư trở đi. Con đực và con cái trông giống nhau.
Sinh học, sinh thái:
Voọc đầu trắng sống ở rừng trên núi đá, giống Voọc má trắng. Voọc đầu trắng sống đàn số con trong đàn biến đổi từ 5 đến 15 con, trung bình 9,36 con và tỷ lệ đực/cái từ 1/1,5 đến1/2. Số lượng con trung bình của một đàn Voọc đầu trắng biến đổi từ 5,6 đến 6,7 con. Voọc đầu trắng ngủ trên vách đá vào mùa nóng và trong hang vào mùa lạnh. Chúng thường chọn những vách đã dựng đứng, có nhiều hang nhỏ để làm nơi ngủ. Voọc đầu trắng kiếm ăn ngày hai buổi sáng và chiều. Cường độ kiếm ăn mạnh vào đầu buổi sáng và giảm dần vào lúc 9 đến 10 giờ. Trưa nghỉ. Hoạt động thầm lặng, di chuyển nhẹ nhàng cả trên cây lẫn mặt đất. Thức ăn là lá, quả cây rừng, không ăn động vật. Bước đầu đã ghi nhận được Voọc đầu trắng ăn 74 loài thực vật thuộc 31 Họ. Trong đó có 54 loài được Voọc sử dụng lá chồi non, 34 loài được ăn quả. Chưa gặp chúng ăn củ loài nào. Chưa có nghiên cứu về sinh sản của Voọc đầu trắng. Quan sát các đàn Voọc đầu trắng qua nhiều năm ở đảo Cát Bà cho thấy chúng có khả năng sinh sản quanh năm nhưng tập trung nhất từ tháng 4 đến tháng 10. Mỗi lứa đẻ một con. Con mới sinh có màu vàng.
Phân bố:
Trong nước: Hải Phòng (Vườn quốc gia Cát Bà) .
Nước ngoài: Chỉ có ở Việt Nam
Giá trị:
Voọc đầu trắng cát bà là nguồn gen đặc hữu quý hiếm, có giá trị khoa học và bảo tồn nhằm nghiên cứu nguồn gen và tiến hóa của chúng để phục vụ đời sống con người.
Tình trạng:
Loài này hiện chỉ ghi nhận ở quần đảo Cát Bà, diện tích pham vi phân bố (EOO) khoảng 93 km2, sinh cảnh sống bị chia cắt và suy thoái do tác động của các hoạt động phát triển du lịch. Số lượng cá thể trưởng thành < 50, trong các năm gần đây có sự gia tăng do sinh sản (ghi nhận tổng số 67 cá thể vào tháng 10/2019 được chia thành 10 – 11 đàn) nhưng một số tiểu quần thể bị biệt lập ở các đảo nhỏ.
Phân hạng: CR B1ab(iii)+D.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Một phần sinh cảnh sống của loài nằm trong các khu bảo tồn nên được bảo vệ. Nhưng vẫn rất cần thiết bảo vệ sinh cảnh trong khu vực phân bố. Quản lý khu vực phân bố. Kiểm soát chặt chẽ tình trạng săn bắt, buôn bán trái pháp luật loài này ở trong nước và quốc tế. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn loài.

Tài liệu dẫnSách đỏ Việt Nam 2023 – phần động vật – trang 31.

  • Documentation and reference sources:002

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae