Voi châu á
| Tên tiếng Anh: | Asian elephant |
|---|---|
| Tên Latin: | Elephas maximus |
| Đồng danh: | Elephas indicus Blumenbach, 1797 |
| Đồng danh: | Elephas gigas Perry, 1811 |
| Đồng danh: | Elephas asiaticus Blumenbach, 1797 |
| Đồng danh: | Elephas maximus Linnaeus, 1758 |
| Tên khác: | Tượng châu á |
- Độ cao so mặt nước biển 1000 M //php } ?>
- Mã định danh002
- Xác định bởiPhùng Mỹ Trung
- Phân bố Việt Nam Kontum Đắk Lắk Đồng Nai Hà Tĩnh Lâm Đồng Nghệ An Sơn La Thanh Hóa Vườn quốc gia Cát Tiên, Việt Nam Vườn quốc gia Yok Don, Việt Nam Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Voi, Quảng Nam
- Môi trường sống Trên cạn Rừng kín lá rộng thường xanh nhiệt đới Rừng kín lá rộng nửa rụng lá nhiệt đới Rừng hỗn giao cây gỗ lớn và lồ ô, tre, nứa
- Tình trạng bảo tồn Cực kỳ nguy cấp: CR: Critically endangered Sách đỏ Việt Nam năm 2023
- Giá trị sử dụng Có giá trị bảo tồn Nhân nuôi để nghiên cứu và làm cảnh Cân bằng sinh thái trong chuỗi thức ăn tự nhiên
- Sinh thái Thú móng guốc ăn các loài cây cỏ Thú ăn quả cây trong rừng Thú kiếm ăn cả ngày lẫn đêm
VOI CHÂU Á
Elephas maximus Linnaeus, 1758
Elephas indicus Blumenbach, 1797
Elephas asiaticus Blumenbach, 1797
Elephas gigas Perry, 1811
Họ: Voi Elephantidae
Bộ: Có vòi Proboscidea
Đặc điểm nhận dạng:
Thân cỡ rất lớn, có thể dài tới 6m. Môi trên và mũi phát triển thành vòi dài chấm đất. Hai răng nanh lớn phát triển thành ngà. Voi đực có hai ngà, mồi ngà dài tới 150 cm, nặng 15 – 20 kg. Có 12 răng hàm, mỗi bên 3 mọc sít nhau gần như một cái. Da rất dày, lông thưa, dài, cứng màu nâu xám (đôi khi trắng).
Sinh học, sinh thái:
Sống ở rừng thưa, rừng thứ sinh pha tre nứa, xen lẫn các trảng cỏ trong các thung lũng hay các vùng đồi núi thấp. Độ cao phân bố lên tới 1500 – 1600m so với mặt biển. Thức ăn là cỏ, lá cây, cành cây nhỏ, măng tre nứa, cây chuối rừng. Chu kỳ sinh sản 4 – 5 năm 1 lứa, mỗi lứa đẻ 1 con, thời gian có chửa 21 – 22 tháng. Voi sơ sinh nặng 90 -100kg. cao tới 1 mét. Tuổi sinh sản từ 15 – 50 tuổi. Tuổi thọ 80 – 90 năm hoặc hơn.
Phân bố:
Trong nước: Sơn La, Nghệ An (Pù Mát), Hà Tĩnh (Vũ Quang), Quảng Nam (Khu BTLSC Voi Quảng Nam, Bắc Trà My, Hiệp Đức), Đắk Lắk (Yok Đôn), Lâm Đồng (Đạ Tẻ, Đạ Hoai), Đồng Nai (Vĩnh Cửu, Cát Tiên), Bình Phước (Bù Gia Mập).
Nước ngoài: Ấn Độ, Srianca, Myanmar, Trung Quốc (Vân Nam), Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Indonesia.
Giá trị:
Loài thú lớn quý hiếm của Việt Nam và thế giới và là loài duy nhật thuộc họ Voi Elephantidae ở Việt Nam Voi thuần hoá được ở nước ta, những năm trước đây voi được thuần hoá ở Buôn Đôn và nhiều nơi khác để phục vụ cho đời sống: kéo gỗ, thồ hàng, dùng trong chiến trận, nuôi trong các vườn thú, làm xiếc… Voi sống và ngà voi có giá trị xuất khẩu. Ngà voi dùng làm hàng mỹ nghệ quý.
Tình trạng:
Trước đây, Voi châu á phân bố khá rộng từ Lai Châu dọc dãy Trường Sơn tới Tây Ninh và Bà Rịa-Vũng Tàu. Năm 1990, ước tính có khoảng 1.000 – 1.500 cá thể, năm 2009 còn khoảng dưới 200 cá thể và hiện còn khoảng 100 – 120 cá thể; ước tính kích cỡ quần thể đã suy giảm > 80% trong vòng 30 năm qua. Hiện chỉ còn ghi nhận phân bố ở các tỉnh Sơn La (1 cá thể), Nghệ An (14.-.17 cá thể), Hà Tĩnh (03 cá thể), Quảng Nam (8.-.10 cá thể), Đăk Lắk (60.-.65 cá thể), Lâm Đồng (1 – 2 cá thể), Đồng Nai (20 – 34 cá thể) và Bình Phước (3 – 5 cá thể); quần thể bị chia cắt, phân tán, mất cân bằng giới tính, số lượng cá thể trưởng thành của mỗi tiểu quần thể ước tính < 50.
Phân hạng: CR A2cd + C2a(i).
Biện pháp bảo vệ:
Voi châu á có tên trong Phụ lục I CITES, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và Nghị định 84/2021/NĐ-CP của Chính phủ. Chính phủ đã phê duyệt kế hoạch hành động khẩn cấp và đề án để bảo tồn voi ở Việt Nam vào các năm 2006, 2013, 2020. Hiện đang có các chương trình bảo tồn voi ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắk Lắk và Đồng Nai. Cần thiết phải quản lý, bảo vệ sinh cảnh sống ở các khu vực có voi phân bố, mở rộng và phục hồi sinh cảnh tự nhiên trong vùng hoạt động của voi; phát triển các tiểu quần thể voi hiện có, liên kết và tạo cơ hội giao lưu giữa các đàn voi có số lượng dưới 10 cá thể; giảm thiểu xung đột voi – người; kiểm soát việc săn bắt, buôn bán các sản phẩm từ voi; thực hiện chương trình bảo vệ nhân nuôi sinh sản đàn voi đã thuần dưỡng vì mục đích bảo tồn; tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo tồn voi.
Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2027 – phần động vật – trang 31.
- Documentation and reference sources:002
-
Vòng tròn khép kín đầy ma mị trong thế giới tự nhiên !19 Tháng 5, 2026 -
Bọ ngựa hoa lan, bậc thầy ngụy trang để sinh tồn !19 Tháng 5, 2026 -
Tại sao các loài thú ăn thực vật mà vẫn to lớn và cơ bắp ?7 Tháng 5, 2026 -
Bay trong đêm tối để kiếm ăn cùng với loài chồn bay13 Tháng 4, 2026 -
Sát thủ rừng xanh một thời, nay đã hoàn lương13 Tháng 4, 2026
Bài liên quan
Thằn lằn bóng browing
Tên tiếng Anh:Bowring's supple skink
Tên Latin:Subdoluseps bowringii
Ếch cây robert inger
Tên tiếng Anh:Robert inger’s treefrog
Tên Latin:Rhacophorus robertingeri
Nhái bầu daklak
Tên tiếng Anh:Daklak narrow - mouth frog
Tên Latin:Microhyla daklakensis
Côn trùng Insecta
Thực vật Plantae
Nấm Fungi
Tô sơn Toricelliaceae