TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Nguyễn Quang Trung

Vàng đắng

Tên tiếng Anh: Yellow vine
Tên Latin: Coscinium fenestratum
Đồng danh: Menispermun fenestratum Gaertn., 1788
Đồng danh: Pereiria medica Lindl., (1838)
Đồng danh: Coscinium maingayi Pierre, 1885
Đồng danh: Coscinium wightianum Miers ex Diels, (1910)
Tên khác: Hoàng đằng lá trắng

VÀNG ĐẮNG

Coscinium fenestratum (Gaertn.) Colebr., 1822
Menispermun fenestratum Gaertn., 1788

Pereiria medica Lindl., (1838)
Coscinium maingayi Pierre, 1885
Coscinium wightianum Miers ex Diels, (1910)
Họ: Tiết dê Menispermaceae
Bộ: Mao lương Ranunculales

Đặc điểm nhận dạng:
Dây leo thân gỗ to, mặt cắt ngang thân và rễ có màu vàng. Phiến lá hình trứng, lá mọc so le, có 3 – 5 gân, mặt trên màu xanh lục thẫm, mặt dưới có lông trắng bạc, dài 15 – 30 cm, rộng 10 – 20 cm. Cuống lá dài, đính vào trong của mép phiến lá. Hoa nhỏ, đơn tính, màu trắng đến phớt tím, tụ họp thành chùm xim ngắn ở nách lá (thường thấy ở những đọn thân đã rụng lá). Cụm hoa đực trông như một cái đầu nhỏ đính trên cuống, dài 1 – 4 cm.
Mỗi nách có 10 – 20 cụm hoa mọc sát nhau. Bao hoa 6 mảnh, hình trứng, mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn. 6 nhị xếp thành hai vòng, chỉ nhị dài bằng bao phấn. Chùm quả dài 10 – 15 cm, có 20 – 30 quả xếp sát nhau. Quả hạch hình cầu, đường kính 2 – 2,5 cm, vỏ quả có lông mịn, thịt quả màu vàng, vị đắng.
Sinh học, sinh thái:
Mùa hoa quả tháng 1 – 5. Cây tái sinh bằng chồi từ gốc, sau khi thân cây bị chặt. Cây mọc hoang trong rừng từ vĩ tuyến 16 trở vào (từ vĩ tuyến 17 trở ra bắc chưa tìm thấy), ở độ cao 700 – 1.000 m, nơi đất có độ mùn cao.
Phân bố:
Trong nước: Quảng Nam – Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Đắc Lắc, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Bình Thuận, Sông Bé, Đồng Nai, Tây Ninh.
Nước ngoài: Ấn Độ, Srilanca, Lào, Campuchia, Malaysia, Broneo.
Giá trị:
Toàn cây chứa berberin (một kháng sinh thực vật quí hiếm),đặc biệt trong thân già và rễ có 3 % berberin dùng để chữa các bệnh tiêu chảy cấp.
Tình trạng:
Sẽ nguy cấp, do khai thác quá mức và không có kế hoạch, không được bảo vệ và có nguy cơ bị cạn kiệt, có thể mất giống.
Mức độ đe dọa: Bậc V (theo sách đỏ Việt Nam 1996).
Đề nghị biện pháp bảo vệ:
Cần khoanh vùng bảo vệ tự nhiên và có kế hoạch tái sinh, trồng trọt để lấy nguyên liệu làm thuốc.

Tài liệu tham khảo: Sách đỏ Việt Nam 2000 – phần thực vật – trang 103.

  • Documentation and reference sources:

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae