TRA CỨU SINH VẬT RỪNG VIỆT NAM

(Hơn 2000 loài thuộc các họ, bộ, nhóm khác nhau)

Ảnh:Phùng Mỹ Trung

Tuế xẻ đôi

Tên tiếng Anh: Split-leaf cycad
Tên Latin: Cycas bifida
Đồng danh: Cycas rumphii var. bifida Thiselton - Dyer, 1902
Đồng danh: Cycas rumphii var. bifida Thiselton - Dyer, 1902
Đồng danh: Cycas rumphii var. bifida Thiselton - Dyer, 1902
Đồng danh: Cycas rumphii var. bifida Thiselton - Dyer, 1902
Tên khác: Tuế xẻ đôi
  • Độ cao so mặt nước biển 1000 M
  • Mã định danh003
  • Xác định bởiPhùng Mỹ Trung

TUẾ XẺ ĐÔI

Cycas bifida (Thiselton – Dyer). 2002
Cycas rumphii var. bifida Thiselton – Dyer, 1902
Họ: Tuế Cycadaceae
Bộ: Tuế Cycadales

Đặc điểm nhận dạng:
Thân hoá gỗ thường nằm trong đất, dài 30 – 40 cm, đ­ường kính 10 – 30 cm, vỏ sần xùi, mang từ 2 tới nhiều, lá đính thành một vài vòng ở đỉnh. Lá vảy (cataphylls) hình mác rộng, dài 11 – 14 cm, rộng 5 – 6 cm tại gốc, phủ lông mềm dày, màu nâu. Lá dài 2 – 5 m, rộng 80 – 90 cm, có 54 – 88 lá chét giả (pinnae) màu xanh thẫm bóng, dai, hình dải, đầu thuôn nhọn dần; lá chét ở phần giữa trục lá (rachis) dài 30 – 60 cm, rộng 1,8 – 2,5 cm, cách nhau 6 – 9,5 cm, phân đôi từ 1 tới 3 lần, cuống nhỏ dài 5 – 35 mm, gân nổi rõ ở mặt trên, mép thẳng hay gợn sóng, men xuống dưới 10 – 15 mm. Nón đực dựng đứng, hình suốt chỉ hay trụ, dài 35 – 55 cm, đường kính 6 – 8 cm, lông nhung màu vàng tươi, cuống dài 2,5 cm. Vẩy nhị dài 20 – 25 mm, rộng 12 – 15 mm, phủ đầy lông nhung, mũi nhọn ở đỉnh thẳng đứng nhô cao 1 mm với 1 – 3 gai nhỏ ở mỗi cạnh. Nón cái cao 20 – 25 cm, đường kính 30 – 40 cm; vảy noãn dài 19 – 23 cm, phủ lông nhung màu nâu đỏ, mỗi vảy mang 6 – 8 noãn; phiến vẩy hình trứng, dài 8 – 12 cm, rộng 2,5 – 5 cm, mép phiến vảy xẻ sâu đều đặn thành 25 – 30 thuỳ nhọn bên, dài 2 – 5 cm, rộng 1 – 2 mm, thuỳ nhọn ở đỉnh lớn hơn, dài 3 – 6,5 cm, rộng 3 – 8 mm ở gốc. Hạt hình trứng, khi chín từ màu vàng tới nâu vàng, dài 2,5 cm, rộng 2 cm.
Sinh học , sinh thái:
Nón xuất hiện tháng 5 – 6, khả năng tạo hạt tốt, hạt chín khoảng tháng 10 – 11. Tái sinh từ hạt bình thường. Trung sinh và ưa bóng, chịu sáng mọc rải rác dưới tán rừng nguyên sinh rậm thường xanh nhiệt đới mưa mùa cây lá rộng, ở đất thấp nhưng có thể mọc cả ở nơi có nhiều ánh sáng và chịu lửa rừng, trong rừng và trảng cây bụi rậm thường xanh thứ sinh phục hồi sau nương rẫy, phát triển chủ yếu trên đất sét nặng thoát nước, là sản phẩm phong hoá của đá phiến sét, rất ít khi ở đá vôi, ở độ cao 100 – 400 m.
Phân bố:
Trong nước: Lần đầu tiên phát hiện ở Tuyên Quang (Yên Sơn, Sơn Dương), Cao Bằng (Thạch An: Đức Xuân, Thất Khê), Lạng Sơn (Bình Gia, Tràng Định, Chi Lăng: Kéo Quang).
Nước ngoài: Trung Quốc (Quảng Tây).
Giá trị:
Nguồn gen quí. Dáng cây đẹp, trồng làm cảnh ở các công viên, biệt thự và đường phố và làm tiêu bản sống để cho học sinh, sinh viên nghiên cứu, học tập về tính đa dạng loài trong tự nhiên.
Tình trạng:
Loài Tuế lá xẻ đôi sâu phân bố ở 3 tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng và Tuyên Quang. Sinh cảnh sống bị thu hẹp, chia cắt và suy thoái do các hoạt động xâm lấn đất rừng làm nương rẫy, khai thác khoáng sản và lâm sản. Loài này cũng bị khai thác làm cây cảnh. Kích cỡ quần thể ước tính bị suy giảm > 50 % trong vòng 20 năm qua.
Phân hạng: EN A2acd.
Biện pháp bảo vệ:
Loài này có tên trong Phụ lục II CITES và Nhóm IIA, Nghị định số 84/2021/NĐ – CP của Chính phủ. Vùng phân bố của loài có một phần nằm trong các Vườn quốc gia, Khu bảo tồn nên được bảo vệ. Tuy nhiên vẫn cần thiết phải bảo vệ sinh cảnh sống của loài. Kiểm soát việc khai thác trái phép làm cảnh, phục hồi quần thể của loài trong tự nhiên. Nghiên cứu thành lập khu bảo tồn thiên nhiên về loài và bảo tồn ngoại vi (Ex – situ) bằng việc trồng trong các vùng có điều kiện sinh thái thích hợp.

Tài liệu dẫn: Sách đỏ Việt Nam 2023 – phần thực vật – trang 224.

  • Documentation and reference sources:003

Bài liên quan

Côn trùng Insecta

Thực vật Plantae

Nấm Fungi

Tô sơn Toricelliaceae